☾ Truyện Ma Có Thật
← Phiên canh đêm thứ hai

Chương 5: Chỉ mình tôi thấy

Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem

Từ đêm ấy bà về mỗi tối.

Bà về như người đi làm đồng về, chẳng cần ai gọi, mà cũng chẳng theo giờ nào. Cứ lúc cả xóm im đến nỗi nghe được tiếng cá quẫy dưới ao, ngọn đèn bàn thờ tự dưng rạp xuống một cái, là mùi trầu dâng lên trước. Rồi tiếng bỏm bẻm. Rồi bà ở đó, trên chõng ngoài hiên, lưng quay vào nhà, mặt ra cổng tre. Bà ngồi đến lúc gà nhà chú Toản gáy đợt đầu thì hết tiếng nhai, mùi trầu nhạt dần, chõng trống.

Tôi để ý bà không bao giờ vào nhà. Không bao giờ ra sân. Không bao giờ đứng dậy. Bà ngồi đúng một chỗ, cái chỗ nếu kẻ một đường thẳng từ cửa gian bên tôi nằm ra cổng tre thì bà ở chính giữa. Hồi còn sống bà không ngồi chỗ ấy. Bà ngồi đầu kia chõng, cạnh khung dệt, cho sáng.

Mỗi lần tôi gọi, bà phẩy tay. Mỗi lần tôi định ra, bà nói một câu, lúc nào cũng câu ấy.

"Vào ngủ đi. Bà thức."

* * *

Mẹ tôi không thấy. Mẹ đứng cạnh bà, đi qua bà, có lần mẹ ngồi xuống chõng đúng chỗ bà ngồi để cài lại cái khuy áo cho tôi. Bà vẫn ở đó, mẹ vẫn ở đó, tôi nhìn thấy cả hai mà không hiểu mắt mình đang nhìn thế nào. Thím Nhàn sang ngủ cùng mấy đêm cho mẹ đỡ sợ, cũng không thấy. Chú Toản ngồi hút thuốc lào ở hiên đến quá nửa đêm, cách bà một gang tay, cũng không thấy. Chú chỉ bảo đêm nay sao lắm mùi trầu.

Mẹ đưa tôi lên trạm xá xã. Ông y sĩ xem lưỡi, vạch mắt, hỏi tôi có đau đầu không, có nằm mơ không. Mẹ kể chuyện bà. Ông y sĩ nghe xong bảo trẻ con mất người thân hay thế, cho mấy viên thuốc bổ, dặn cho nó ăn nhiều, ngủ đủ. Tôi uống thuốc, và tối vẫn nằm nghiêng nhìn ra khe cửa.

Tôi mười hai tuổi, tôi không biết phải làm gì, nhưng tôi bắt đầu thử.

Tôi đem cái cối trầu từ bàn đầu giường bà ra đặt trên chõng, cạnh chỗ bà ngồi, trước khi đi ngủ. Tôi nghĩ nếu bà về là bà thật thì bà sẽ dùng. Sáng ra cối vẫn nguyên chỗ, trong cối có bã trầu mới, đỏ tươi, còn ướt. Tôi không nghe tiếng giã đêm ấy. Chỉ có tiếng nhai.

Tôi để con dao rựa, cái con dao chú Toản đã đặt lên bụng bà, ở dưới chõng. Đêm ấy bà ngồi xa hơn một chút, mép chõng, và không nhổ trầu. Sáng ra tôi cất dao đi. Tôi không muốn làm bà khó chịu.

* * *

Con mèo quay lại vào đêm thứ bảy sau khi chôn.

Nó không vào sân. Nó ngồi ở ngoài cổng tre, bên kia cánh cổng, chỗ con đường đất chạy ra đồng. Tôi nhìn thấy nó qua khe cửa, qua vai bà. Hai đốm mắt vàng đục, cái chân trắng gác lên thanh tre ngang. Nó ngồi suốt đêm, và bà ngồi suốt đêm, hai bên cách nhau cái sân gạch. Không bên nào động đậy.

Gần sáng, lúc gà gáy, con mèo đi trước. Bà tan sau.

Sáng ra tôi kể với mẹ chuyện mèo. Mẹ ra cổng xem. Trên thanh tre ngang có dính mấy sợi lông đen. Mẹ cầm mấy sợi lông đứng im lâu lắm. Lần đầu tiên mẹ không bảo tôi nằm mơ.

Người làng cũng thấy mèo. Cô Hường thấy nó ngồi trên nóc bếp nhà tôi buổi trưa. Ông Khải thấy nó ở bờ ao. Trẻ con ném đá, người lớn xua chó. Nó không đi. Nó cũng không vào sân nhà tôi. Nó chỉ quanh quẩn ở mép, ở bờ tường, ở nóc bếp, ở ngoài cổng, như con chó nhà người ta buộc dây đến đúng chỗ ấy thì hết.

Ai cũng thấy con mèo. Chỉ không ai thấy bà.

* * *

Con Vện chết đêm thứ chín.

Từ hôm đưa bà ra đồng nó không ăn. Mẹ đổ cơm, nó ngửi rồi quay đi. Nó không nằm gầm chõng nữa, không nằm gốc cau, nó nằm ở góc bếp, xa cái hiên nhất. Ban ngày tôi lại gần, nó gầm gừ, không cắn, nhưng lùi. Nó không gầm gừ với mẹ. Chỉ với tôi.

Đêm thứ chín, nửa đêm, nó tru. Tru dài, từng hồi, tiếng tru hướng về phía hiên. Bà ngồi đó, không nhúc nhích. Ngoài cổng con mèo ngồi đó, không nhúc nhích. Tiếng tru kéo dài đến khi khản, rồi gắt lại thành một tiếng ăng ngắn, rồi hết.

Sáng ra mẹ tìm thấy nó dưới gốc cau, nằm duỗi chân như hồi bà còn khoẻ nó vẫn nằm sưởi nắng. Miệng há. Không có vết thương, không có máu. Mắt mở, và mắt nó nhìn về phía chõng.

Chú Toản sang đem chôn ở bờ ao. Chú bảo chó nhà có tang chết theo chủ là thường. Mẹ tôi không nói gì, mẹ đi ra chợ huyện, chiều về với một nắm chỉ đỏ, buộc vào cổ tay tôi, buộc chặt đến hằn.

* * *

Đêm ấy bà về, ngồi chỗ cũ. Tôi nằm nhìn qua khe cửa, cổ tay buộc chỉ đỏ đặt trên ngực.

Rồi bà làm một việc bà chưa làm bao giờ từ hôm về.

Bà quay lại.

Chậm, cả người xoay trên chõng, hai tay vẫn đặt trên gối. Khăn mỏ quạ, mặt bà dưới trăng non xám như màu gạch cũ, má hóp, miệng đỏ trầu. Mắt bà mở. Bà nhìn vào trong nhà, qua khe cửa, nhìn tôi.

Không. Không nhìn tôi. Bà nhìn xuống thấp hơn mặt tôi một chút. Bà nhìn vào ngực tôi, chỗ tôi đặt tay. Nhìn như hôm bà tỉnh táo cuối cùng, hôm bà bảo mày phải thức.

Rồi bà hỏi, giọng khàn, rõ từng tiếng.

"Mày lạnh ở đâu?"

Tôi không hiểu. Tôi nói tôi không lạnh. Bà vẫn nhìn vào ngực tôi. Và tôi nhận ra là tôi nói dối. Chỗ con mèo đã ngồi đêm canh thứ hai, dưới xương ức, lạnh. Lạnh từ hôm ấy đến giờ, lạnh đến nỗi tôi đã quen, như quen mùi trầu, chỉ nhận ra khi có người hỏi.

Tôi đặt tay lên đó. Tôi nói, ở đây.

Bà gật đầu một cái, rất nhỏ. Rồi bà quay lại, mặt ra cổng, và nhổ một bãi trầu xuống sân gạch, mạnh hơn mọi lần.