Chương 8: Đêm cổng tre
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Tôi quyết thức một đêm trọn. Không nằm. Không nhắm mắt. Tôi muốn nhìn xem bà giữ cái gì.
Tôi không nói với mẹ. Tối ấy tôi uống hai bát nước chè đặc chú Toản để lại, đắng đến tê lưỡi. Tôi lên chõng nằm cho mẹ yên, đợi mẹ ngủ, rồi ngồi dậy, kê cái ghế con sát cửa gian bên, mở hé vừa một con mắt. Gói muối gạo tôi để nguyên ở bậu cửa, ngay dưới chân ghế.
Điện cắt từ đầu hôm. Trăng hạ tuần lên muộn, sân gạch xám, hàng cau đen, cổng tre đen hơn. Gió heo may đã thành gió bấc, luồn qua khe cửa, cứa vào mắt. Tôi ngồi đếm. Tôi đếm được hơn bốn nghìn thì lũ dế dưới chân tường im bặt, cùng một lúc. Mùi trầu tới sau.
Bà ngồi đó. Tôi không thấy bà đến. Bà không đi từ cổng vào, không đi từ trong nhà ra. Giữa hai cái chớp mắt, chõng trống rồi chõng có bà. Lưng còng, khăn mỏ quạ, mặt ra cổng. Tiếng nhai bắt đầu.
Tôi ngồi im. Tôi thở bằng mũi. Tôi nghĩ, bà biết tôi đang nhìn, vì bà biết mọi thứ. Nhưng bà không phẩy tay. Bà để tôi ngồi.
* * *
Con mèo đến sau gà gáy đợt đầu bên xóm Đông, lúc trời còn tối đặc.
Nó không ngồi ngoài cổng như mọi đêm. Nó chui qua khe cổng tre, vào sân. Đi chậm, từng bước, cái chân trắng đặt xuống gạch không một tiếng động. Nó đi đến giữa sân, chỗ nắng chiều hay đọng, và ngồi xuống. Nhìn lên hiên. Nhìn bà.
Bà ngừng nhai.
Rồi bà đứng dậy. Chậm, tay chống gối, lưng còng duỗi ra được một chút như người già đứng lên khỏi khung dệt. Bà bước xuống bậc hiên, một bậc, hai bậc, xuống đến sân gạch. Bà đứng đó, cách con mèo ba bước, hai tay buông, đầu nghiêng.
Và tôi thấy cái thứ đứng sau con mèo.
Tôi không biết gọi nó là gì. Nó đứng ở ngoài cổng, sát cổng, cao hơn cổng tre, cao hơn người. Gầy, nghiêng, như cây chuối bị bão bẻ gập nửa thân mà chưa đổ.
Nó không có màu. Chỗ nó đứng, trăng không rọi tới, hay rọi tới mà không có gì để sáng. Tôi không thấy mặt. Tôi không thấy tay chân. Tôi chỉ thấy nó cao, nó nghiêng, và nó đang nhìn.
Nó không nhìn bà. Nó không nhìn con mèo. Nó nhìn qua đầu bà, qua sân, qua hiên, qua khe cửa hé một con mắt, vào tôi. Vào ngực tôi. Chỗ lạnh.
Chỗ lạnh ấy co lại. Như có một bàn tay từ bên trong nắm lấy xương ức tôi và kéo. Kéo về phía cổng. Tôi bấu hai tay vào mép ghế. Tôi nghe răng mình va vào nhau.
Bà tôi bước lên một bước. Đứng chắn. Đứng đúng vào đường thẳng từ cái thứ ngoài cổng đến khe cửa của tôi.
Con mèo đứng dậy, đi vòng. Bà xoay theo. Con mèo vòng sang bên kia. Bà xoay theo. Chậm, cả hai, như hai người già chơi trò gì ngoài sân lúc nửa đêm. Nhưng lần nào bà cũng kịp. Lần nào cái lưng còng ấy cũng ở giữa.
Rồi bà cúi xuống và nhổ một bãi trầu xuống sân gạch.
Bãi trầu đỏ dưới trăng đen như máu. Con mèo lùi một bước. Cái thứ ngoài cổng, tôi không thấy nó động, nhưng tôi thấy cổng tre rung, mấy sợi lông đen trên thanh ngang bay đi. Bà nhổ bãi nữa. Mèo lùi nữa. Bà bước tới, nhổ, bước tới, nhổ. Sân gạch nhà tôi lốm đốm đỏ từ hiên ra tới cổng, như người ta rắc vôi đỏ quanh đám ma.
Cái lạnh trong ngực tôi nới ra từng chút.
* * *
Gà nhà chú Toản gáy.
Con mèo quay đầu, chui qua khe cổng, mất. Cái thứ ngoài cổng không còn ở đó, hay vẫn ở đó mà tôi không thấy nữa, tôi không biết. Cổng tre đứng im. Trăng rọi vào chỗ nó đứng, và chỗ ấy chỉ là đường đất.
Bà đứng giữa sân một lúc. Rồi bà quay lại hiên. Bà lên bậc. Bậc thứ nhất bà bước được. Bậc thứ hai bà phải chống tay xuống gạch. Tôi chưa thấy bà chống tay bao giờ.
Bà ngồi xuống chõng, và bà không nhai nữa. Bà chỉ ngồi, đầu cúi, hai tay đặt trên gối, như người thở dốc mà không có hơi để thở.
Rồi bà nhạt dần. Mọi sáng bà tan từ từ, theo tiếng nhai thưa đi. Sáng nay bà nhạt ngay, khi tiếng gà nhà chú Toản còn chưa dứt. Tôi nhìn thấy cổng tre qua vai bà, qua lưng bà, qua khăn mỏ quạ, rồi không còn gì để nhìn qua nữa.
Sân gạch trống. Không có bãi trầu nào. Sạch như mẹ vừa quét.
Tôi ngồi trên ghế đến sáng, tay vẫn bấu mép ghế, không dám nhắm mắt vì sợ lúc mở ra sẽ thấy mình đứng ở cổng.
* * *
Sáng, mẹ ra sân quét, kêu lên.
Cây cau thứ ba, cây gần cổng nhất, chết. Chết khô. Lá rũ xuống vàng úa, bẹ bong ra, thân nứt dọc, như cây đã chết cả tháng. Hôm qua nó còn xanh. Mẹ đứng dưới gốc cau, tay cầm chổi, nhìn lên rất lâu. Mẹ bảo, nhà có người mất, cây chết theo là thường.
Mẹ nói câu ấy giống hệt chú Toản nói về con Vện. Người lớn làng tôi có một câu cho mọi thứ chết trong năm có tang.
Tôi vào buồng bà, nhìn cái cối trên bàn đầu giường. Cối đồng nứt một đường từ miệng xuống đáy, mảnh như sợi tóc. Trong cối không có bã trầu. Lần đầu tiên từ hôm bà ốm, sáng ra cối trống.
Tôi nghĩ, thế là xong rồi. Bà đuổi được nó rồi.
Đêm ấy, con mèo ngồi ở giữa sân ngay từ chập tối, trước cả khi mùi trầu dâng lên. Và bà về muộn hơn mọi đêm.