Truyện Ma Có Thật
← Ca nô mùa nước lên

Chương 16: Mùa nước năm sau

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Chúng tôi về Lệ Thủy bằng chiếc xe máy của đội, Mạnh lái, tôi ngồi sau. Lúc qua đoạn đường ngập, anh không giảm ga, chỉ bảo tôi co chân lên. Tôi co chân lên, ôm eo anh, ngó về phía hàng cọc tiêu bên kia. Lần này tôi không thấy chân mình cứng lại nữa.

Về tới bến Chè thì đã gần trưa. Bà Lài đứng ở cửa quán, tay cầm cái môi múc canh, nhìn hai đứa xuống xe. Bà không hỏi gì. Bà chỉ quay vào trong, múc thêm hai bát cá kho.

Chuyện sau đó, người ở bến Chè còn kể lại nhiều hơn tôi.

Tháng Mười Một, tôi nhận quyết định chuyển công tác chính thức. Tôi chuyển ra khỏi phòng tập thể, thuê một căn nhà nhỏ có gác ở thị trấn, cách bến Chè mười phút đi bộ. Tôi học ăn mắm ruốc. Tôi học nói "răng" và "rứa", nói ra ai cũng cười vì giọng tôi vẫn là giọng Hà Nội, chỉ có chữ là của Lệ Thủy.

Chiếc ca nô vỏ nhôm được gò lại chỗ móp, sơn một lớp xanh mới. Mạnh lắp cho nó cái chốt chân vịt bằng thép tốt hơn, rồi bỏ thêm năm cái chốt dự phòng vào hộp đạn, cạnh ba cái bugi. Anh cũng bỏ vào đó một gói nilon dẹt mới, cạnh tấm ảnh ông bà. Bên trong là lá đơn hai trang của tôi, gấp làm tư theo nếp cũ.

Tháng Giêng, mẹ tôi vào Lệ Thủy lần đầu. Mẹ ở một tuần. Mẹ ra bến Chè ngồi ở quán bà Lài từ sáng tới chiều, hai bà nói chuyện với nhau, một người nói giọng Hà Nội, một người nói giọng Lệ Thủy, tôi không biết họ hiểu nhau được bao nhiêu. Hôm về, mẹ dặn tôi một câu.

"Thằng đó nói khó nghe, nhưng nó nói thật."

Mùa xuân, Mạnh vào nhà tôi ở Hà Nội. Bố tôi hỏi anh có uống được rượu không. Anh uống được. Tôi không nhớ đêm đó hai người nói chuyện gì, chỉ nhớ sáng hôm sau bố tôi gọi anh là "thằng Mạnh" thay vì "cậu ấy".

Mệ Ngọ không bao giờ đòi lại con gà. Nó ở hẳn trong xưởng của Mạnh, ngủ trên nóc cái tủ gỗ đựng mì tôm, sáng nào cũng gáy. Bà con bến Chè bảo đó là con gà duy nhất ở Lệ Thủy được đặt cả tên lẫn họ, vì Mạnh gọi nó là "ông Tía".

Bé Đèn tròn một tuổi vào đúng tuần lũ năm sau. Chị Hằng gửi cho tôi một tấm ảnh chụp bé ngồi giữa chiếu, tay cầm một cái đèn pin đồ chơi màu đỏ. Chồng chị đã về hẳn từ Bình Dương, mở một tiệm sửa xe ở đầu xóm Cồn. Nhà chị xây thêm một tầng.

Tháng Mười năm 2021, nước lên.

Không phải lũ lớn như năm trước. Chỉ là mùa nước bình thường, đủ để cánh đồng Bàu Sen thành một mặt hồ, đủ để đường làng vào thôn Đình Phú ngập ngang bắp chân. Mùa dịch, đám cưới chỉ được mời ba mươi người. Chúng tôi chọn ngày đó.

Sáng hôm cưới, tôi mặc áo dài đỏ, ngồi ở nhà mệ Ngọ, nhà gái nhờ tạm vì nhà tôi ở xa quá. Mẹ tôi chải tóc cho tôi. Ngoài sân, nước đã lên tới bậc thềm.

Tiếng máy ca nô vang lên từ phía cánh đồng.

Chiếc ca nô xanh mới sơn chạy tới, mũi buộc một dải lụa hồng. Mạnh ngồi ở đuôi, áo sơ mi trắng, quần tây xắn tới gối, cầm lái. Bên cạnh anh, trên tấm ván ngang, có một cái ghế nhựa đỏ, cái ghế ở xưởng. Trên ghế, con gà trống tía đứng chễm chệ, cổ đeo một cái nơ đỏ bằng ruy băng.

Mấy bà bán cá đứng trên bờ cười nghiêng ngả. Chú Hiếu cầm loa giới thiệu.

"Khách mời danh dự của nhà trai. Ông Tía, người làng Bàu Sen, đã có công cứu cô dâu chú rể trên nóc trường học."

Ông Tía vươn cổ gáy một tiếng thật dài. Cả bến vỗ tay.

Mạnh cho ca nô áp vào thềm nhà mệ Ngọ, buộc dây vào chân cột hiên. Ba vòng, kẹp đầu dây, kéo căng. Anh bước lên, đưa tay ra đỡ tôi. Tôi bước xuống ca nô, áo dài đỏ, chân đi đôi dép cao su đỏ. Đôi dép tôi đã rửa sạch, cất trong tủ cả năm trời để chờ ngày này.

Mẹ tôi nhìn đôi dép, nhìn bà Lài, rồi hai bà cùng bật cười.

Anh Tâm cầm máy ảnh, bảo hai đứa ngồi yên. Mạnh cầm mái chèo dự phòng, đứng sau tôi, cười toe toét. Tôi ngồi thẳng lưng, hai tay ôm bó hoa cúc vàng mệ Ngọ hái từ chậu trên gác.

"O ngó bờ đi, ngó mấy ngọn tre, cho giống ảnh bà nội."

Mạnh nói nhỏ sau lưng tôi. Tôi lắc đầu.

Tôi ngó thẳng vào máy ảnh, và tôi cười.

Tấm ảnh đó chụp xong, Mạnh rửa ra một bản cỡ bằng bàn tay, ép nhựa, gói nilon, bỏ vào hộp đạn, cạnh tấm ảnh ông bà. Hai chiếc ghe, hai cô dâu, cách nhau năm mươi bảy năm. Một người ngó ngọn tre, một người ngó máy ảnh.

Bây giờ, mỗi mùa nước lên, tôi vẫn đi theo ca nô của anh ra các trạm biến áp ngập. Chú Hiếu sắp nghỉ hưu, đã giao lại cho tôi tổ vận hành. Mạnh vẫn lái, tôi vẫn cầm sào. Cái đèn pin đội đầu tôi mua ở Hà Nội đã thay dây chun ba lần, giờ treo trên một cái đinh trong xưởng, cạnh cái đinh từng treo chiếc dép đỏ.

Chiều nào nước lên, cắt điện xong trạm cuối cùng, anh cho ca nô tắt máy, thả trôi giữa đồng. Anh bóp vụn một gói mì tôm, rắc gia vị, xóc mấy cái, rồi chìa ra giữa hai đứa.

Mỗi người một nhúm, lần lượt. Ông Tía đứng trên nắp hộp đạn ở mũi thuyền, chờ phần vụn.