Chương 6: Đêm ngồi canh tiệm
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Tôi kể Mế nghe hết. Ông thầy Bảy Núi đã chết. Tấm hình khai trương. Chuyện năm 2005. Câu Vươn nói. Tôi kể mà không dám nhìn Mế, tôi nhìn xuống nền gạch.
Mế nghe xong, ngồi im trên ghế. Rồi bà nói, giọng đều:
"Thằng Vươn bệnh rồi nó nói bậy. Mày đừng nghe."
Bà đứng dậy, vịn lưng ghế. Lúc đi ngang qua tôi, bà dừng lại, đưa bàn tay run run sờ lên má tôi. Tay Mế lạnh. Cái lạnh ấy tôi biết rồi.
"Tối nay mày lên chùa ngủ với sư đi Phên."
Tôi nói không. Tôi nói tối nay tôi canh tiệm. Mế nhìn tôi lâu, như muốn nói thêm điều gì, rồi bà vô buồng, kéo tấm màn lại.
* * *
Tôi chuẩn bị như người đi bắt trộm.
Tôi lau sạch cây kéo lớn, cây kéo thầy Tư Lùn cho tôi hồi ra nghề, lưỡi thép Nhật, mười năm chưa mẻ. Tôi quấn thêm mấy vòng chỉ trắng ông Kru cột, xin thêm ở chùa hồi chiều, quanh cổ tay. Tôi để sợi chỉ đỏ lên mặt bàn kê dưới gương, đặt một cái chén sứ úp lên trên. Tôi tắt đèn tuýp, chỉ để bóng đèn tròn nhỏ trên kệ. Tôi kéo một cái ghế đẩu ra ngồi ngay trước tấm màn, lưng quay vô nhà trong, mặt nhìn ra ba cái ghế sắt.
Cái ghế giữa tôi quay mặt vô gương, lấy dây kẽm cột chân ghế vô chân bàn.
Mười giờ. Ngoài đường còn tiếng xe máy chạy về sóc, tiếng chó sủa. Mười một giờ. Chợ tắt đèn. Chỉ còn tiếng tắc kè và tiếng muỗi vo ve bên tai. Tôi ngồi ôm cây kéo, mắt mở trừng trừng.
Gần mười hai giờ, bóng đèn tròn trên kệ bắt đầu nhấp nháy.
* * *
"Xoẹt."
Tiếng kéo, mà cây kéo đang nằm trong tay tôi. Tôi nhìn xuống. Hai lưỡi kéo khép chặt. Vậy mà tiếng cắt vẫn vang lên, ngay trong tiệm, ngay trước mặt tôi.
"Xoẹt. Xoẹt."
Dây kẽm cột chân ghế kêu cót két. Cái ghế giữa xoay. Chậm, từng chút, kẽm siết vô chân ghế rít lên, rồi đứt cái tựt. Ghế xoay hẳn lại, lưng vô gương, mặt về phía tôi.
Trên ghế có người ngồi.
Không còn là cái bóng trong gương. Ông ngồi đó thật, cách tôi ba bước chân. Áo sơ mi trắng cũ, cổ áo sờn. Hai tay đặt trên đùi. Gáy cạo sát xanh xanh. Ánh đèn nhấp nháy làm mặt ông lúc thấy lúc không. Mặt ông không có gì đáng sợ. Một khuôn mặt già, ốm, hiền, mắt nhìn qua vai tôi, nhìn vô tấm màn.
Dưới chân ghế, tóc vụn đang rơi. Không có ai hớt, mà tóc cứ rơi lả tả từ trên đầu ông xuống, đen lẫn bạc, rải thành vòng quanh chân ghế, dày dần lên.
Tôi đứng dậy. Chân tôi như không phải chân mình. Tôi giơ cây kéo ra trước mặt như giơ con dao.
"Ông đi đi. Nhà này không có gì của ông."
Ông nhìn tôi lần đầu tiên. Ông lắc đầu nhẹ, như người lớn lắc đầu với con nít nói sai. Rồi ông đứng dậy.
* * *
Ông bước về phía tôi. Không, về phía tấm màn. Tôi đứng chắn ngay giữa.
Ông không dừng. Ông bước thêm một bước, và sợi chỉ trắng trên cổ tay tôi đứt. Tôi nghe tiếng nó đứt, khô và gọn, như tiếng búng ngón tay. Bảy vòng chỉ tuột xuống nền gạch.
Rồi ông đi xuyên qua tôi.
Tôi không biết tả sao. Như có ai mở toang cửa một cái tủ đá ngay trong lồng ngực. Cái lạnh đi từ ngực ra tới đầu ngón tay, xuống tới đầu gối. Tim tôi ngưng một nhịp. Cây kéo rớt khỏi tay, kêu keng trên nền gạch. Mũi tôi ngửi thấy mùi khét ngấy y như đêm đốt tóc ở ngã ba.
Tôi té xuống. Lúc nằm nghiêng trên nền gạch, mắt tôi nhìn ngang dưới mép tấm màn vải hoa. Tôi thấy hai bàn chân trần, gầy, xám như tro, đi vô buồng Mế. Tôi nghe tiếng Mế nói gì đó bằng tiếng Khmer, rất nhỏ, như người đang dỗ con. Rồi tiếng kéo.
"Xoẹt."
Rồi tôi không biết gì nữa.
* * *
Tôi tỉnh dậy lúc gà gáy, nằm trên nền gạch, toàn thân lạnh ngắt, áo ướt đẫm mồ hôi. Bóng đèn tròn trên kệ đã cháy, bóng thủy tinh đen thui. Cái chén sứ trên mặt bàn vẫn úp. Tôi lật lên. Bên dưới trống trơn.
Tôi bò vô buồng Mế.
Mế nằm dưới nền đất, cạnh chân giường, ngay trước cái rương gỗ sơn đen. Bà còn thở. Bà nằm nghiêng, hai tay ôm lấy đầu gối như đứa con nít lạnh. Tóc Mế xưa nay búi gọn sau gáy. Giờ búi tóc đã xổ, và ngay sau gáy bà, một lọn tóc đã bị cắt sát tận chân, nham nhở, để lộ một mảng da đầu trắng bệch.
Tôi đỡ Mế lên giường, hỏi ai cắt tóc Mế. Mế mở mắt nhìn tôi. Mắt bà đục như mắt ông Kru.
"Tao cắt," Mế nói. "Tao tự cắt."
Cây kéo nhỏ cắt chỉ may của bà nằm trên mặt rương, khép chặt. Trên lưỡi kéo không dính một sợi tóc nào.