Chương 7: Chuyến đi Bảy Núi
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Mế nằm liệt ba ngày.
Bà không sốt, không ho, không đau chỗ nào. Bà chỉ nằm, ăn mỗi bữa vài muỗng cháo, uống nước bằng cái muỗng canh tôi đút. Mỗi lần tôi bước vô, bà quay mặt vô vách. Mảng da đầu trắng sau gáy bà, tôi lấy cái khăn rằn quấn lại cho bà khỏi lạnh. Bà để yên.
Tôi thì sụt cân lại. Chỉ trong ba ngày, cái nửa ký lên được mất sạch, mất thêm. Tay tôi run tới mức cầm ly nước phải dùng hai tay. Tôi đóng cửa tiệm. Tôi dán một tờ giấy ngoài cửa ván: nghỉ bệnh.
Ngày thứ hai tôi chạy lên chùa kiếm ông Kru. Chòi ông khóa cửa. Một chú tiểu quét sân nói ông đi làm lễ cho một nhà ở Cầu Kè, có người chết đuối, chắc tuần sau mới về. Tôi để lại lời nhắn. Tôi đứng dưới gốc sao dầu nhìn mái chùa rất lâu, không biết phải cầu ai.
* * *
Chiều ngày thứ ba, bà Năm Nhanh qua thăm.
Bà Năm bán bánh ống ở cái sạp kế bàn cốm của Mế đã hơn hai chục năm. Hai bà ngồi cạnh nhau mỗi sáng, chia nhau bình trà, chia nhau chuyện trong sóc. Bà đem qua một bịch cam sành, ngồi bên giường Mế một lúc, nắm tay Mế, nói gì đó bằng tiếng Khmer. Mế không trả lời.
Lúc ra về, bà Năm kéo tôi ra hiên sau. Bà nhìn quanh, như sợ có ai nghe.
"Phên. Bà hỏi con chuyện này, con đừng giận."
Tôi gật.
"Hồi thằng Vươn bệnh, năm đó, con có nhớ Mế con đi đâu không?"
Tôi nói không nhớ. Tôi nhớ Mế đi mấy ngày, gửi tôi ăn cơm nhà bà Năm.
"Mế con đi Bảy Núi."
Bà Năm kể. Năm 2005, cuối mùa mưa, Mế gửi bà Năm coi giùm bàn cốm, nói đi An Giang viếng Bà Chúa Xứ. Đi một tuần. Lúc về, Mế đem theo một cái gì đó bọc trong khăn rằn, ôm khư khư trước ngực, không để vô giỏ xách. Bà Năm thấy cái gói đó tròn, cỡ trái dừa. Bà hỏi quà gì, Mế nói hũ mắm, rồi đi thẳng vô nhà.
"Viếng Bà mà không đem về nhang, không đem về bánh, chỉ đem về một hũ mắm," bà Năm nói. "Bà thấy kỳ, mà bà không hỏi."
Bà kể tiếp. Tuần sau nữa, Vươn đổ bệnh.
"Bà không nói gì hết đó nghen Phên. Bà già rồi, bà nói bậy. Con coi bà như không nói."
Bà vỗ vai tôi rồi đi về. Dáng bà lật đật trên đường đất, không quay lại.
* * *
Tôi ngồi ở hiên sau tới tối. Gió đồng thổi vô mang mùi rạ khô, mùi phân bò. Đàn vịt ai lùa về ngang mương, kêu quang quác. Tôi ngồi nhìn cái lu da bò, nhìn khe hở giữa lu với vách.
Hai chén cơm cúng vẫn nằm đó. Chén dưới mốc xanh. Chén trên khô cứng, ngả màu vàng, có một vệt kiến bò thành hàng.
Tôi nhớ lại từng chuyện. Mế thấy nắm tóc là đổi sắc mặt. Mế hỏi đi hỏi lại tôi có thả sông chưa. Mế không chịu cột chỉ, không chịu ra ngã ba. Tay Mế run từ khi tay tôi bớt run. Ông khách áo trắng ngồi ghế tiệm tôi mà mắt chỉ nhìn về buồng Mế. Câu ông Kru hỏi. Câu Vươn nói.
Tôi gom hết những chuyện đó lại, rồi tôi gạt đi. Tôi nói với mình, Mế tôi tụng kinh mỗi tối. Mế tôi không biết ngải là gì.
Tôi nói câu đó nhiều lần, tới khi nó nghe như câu kinh.
* * *
Đêm đó tôi không ngủ. Tôi nằm trên bộ ván, nghe Mế thở trong buồng. Hơi thở bà ngắn, khò khè, có lúc ngưng lâu tới mức tôi phải nhổm dậy nghe.
Gần nửa đêm, tôi nghe tiếng chân trần đi trên nền đất. Từ buồng Mế ra sau bếp. Chậm, kéo lê.
Tôi rón rén đi theo. Bếp tối, chỉ có ánh trăng hạ tuần lọt qua tấm vách lá. Mế đang quỳ trước cái lu da bò. Ba ngày nay bà không ngồi dậy nổi. Vậy mà giờ bà quỳ thẳng lưng. Trước mặt bà, ở khe giữa lu với vách, bà vừa để xuống một chén cơm mới. Bà dọn hai chén cũ ra, xếp gọn một bên.
Rồi Mế cúi đầu sát xuống, nói vô khe hở tối om ấy. Bà nói bằng tiếng Khmer, giọng thì thầm, như người mẹ dỗ một đứa con đang giận.
"Tao đây. Tao về rồi. Tao cho ăn lại. Mày đừng ăn nó."
Bà ngưng một chút. Rồi bà nói thêm, giọng run hẳn đi:
"Nó là con tao. Mày ăn tao đây nè."
Trong khe hở tối giữa cái lu với vách, có tiếng gì đó trả lời. Không phải tiếng người. Tiếng hai lưỡi kéo cắt vào nhau, rất chậm.
"Xoẹt."