Chương 1: Gánh trên gác bếp
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Nhà bà ngoại tôi nằm sâu trong một con hẻm ở Quận 6, đi thẳng ra là gặp đại lộ mới làm chạy dọc kênh Tàu Hũ. Nhà lầu một, mặt tiền chừng ba thước, tường quét vôi vàng đã ngả màu bánh quy. Dưới nhà là phòng khách kiêm chỗ bà ngủ, sau cùng là cái bếp thấp có gác lửng. Trên gác lửng ấy, từ hồi tôi còn nhỏ, đã treo một cái gánh.
Cái gánh gồm một cây đòn tre bóng lên vì mồ hôi, hai đầu móc hai cái thùng gỗ sơn đỏ đã tróc. Thùng có nắp, bên trong lót thiếc. Ở một đầu đòn gánh cột một cái chuông đồng nhỏ bằng ngón tay cái, cái loại người bán hàng rong ngày xưa đeo để rao không cần mở miệng. Hồi nhỏ tôi hỏi bà, bà nói đồ hồi trẻ bà gánh mướn cho người ta. Gánh gì, bà không nói.
Tháng Sáu năm 2012, tôi xin nghỉ việc ở vựa tạp hoá chợ Bình Tây, nơi tôi làm sổ sách được bốn năm. Bà ngoại bảy mươi tuổi, lẫn đã hơn một năm. Má tôi bán vải ở sạp trong chợ, sáng đi tối về, không ai coi bà. Tôi hai mươi lăm, chưa chồng, tiền dành dụm còn đủ xài nửa năm. Tôi nói với má, để con ở nhà với ngoại.
Bà lẫn hiền. Buổi sáng bà còn tỉnh, kêu tên tôi được, biết đòi ăn cháo, biết nhắc tôi tưới mấy chậu hoa mười giờ ngoài cửa. Bà chỉ quên những chuyện mới. Quên vừa uống thuốc, quên má tôi đi chợ, có bữa hỏi ông ngoại đi đâu chưa về, mà ông mất đã tám năm.
Mấy ngày đầu không có gì. Tôi nấu cơm, lau người cho bà, đẩy bà ra đầu hẻm ngồi coi xe chạy.
Chiều thứ năm tuần đầu, tôi đang rửa chén thì ngửi thấy mùi gừng.
Gừng nấu với đường phèn, cái mùi ngọt mà cay, đặc quánh như mùi trong tiệm chè. Tôi tắt vòi nước, nhìn quanh. Bếp ga tắt. Nồi niêu úp trên kệ. Tôi nghĩ nhà bên nấu. Nhưng nhà bên trái là tiệm sửa xe, nhà bên phải là cặp vợ chồng già đi làm suốt ngày, khoá cửa.
Mùi đậm lên. Rồi ở trên đầu tôi, chiếc chuông đồng kêu.
Leng keng. Hai tiếng, nhẹ, như người ta vừa nhấc đòn gánh lên vai. Tôi ngước lên. Cái gánh treo yên trên móc, bụi bám dày trên nắp thùng. Không có gió. Cửa sổ bếp đóng, cái quạt trần trong bếp hư từ năm ngoái.
Phía nhà trước, bà tôi ho một tiếng. Rồi bà nói.
Tôi đứng sững ở cửa bếp. Bà ngồi thẳng trên xe lăn, cái lưng còng của bà như được ai kéo thẳng ra. Bà đang nói, nói một tràng dài, nhanh và trơn, tiếng lên xuống như hát. Tiếng Quảng Đông.
Bà ngoại tôi không biết tiếng Quảng. Cả nhà tôi ai cũng biết vậy. Đi chợ Bình Tây mua đồ khô, bà phải trả giá bằng tay, xoè ngón ra ngón vô với mấy bà chủ sạp người Hoa. Sống năm chục năm giữa Chợ Lớn mà bà chỉ biết đếm tới mười, giọng lơ lớ, bị người ta cười.
Giờ bà nói như người sinh ra trong Chợ Lớn.
"Ngoại," tôi kêu.
Bà quay lại. Mắt bà nhìn tôi mà không nhận ra tôi. Mắt sáng, lanh, mắt của người trẻ. Bà hỏi tôi một câu, giọng gấp. Tôi lắc đầu. Bà cau mày, rồi nói chậm lại bằng tiếng Việt, mỗi chữ lơ lớ như người Hoa mới học nói:
"Mấy giờ gồi? Tui phải đi bán. Trễ gồi, lẩu bản la."
"Ngoại đi bán gì?"
"Ngoại nào? Tui là A Muội." Bà vỗ tay lên ngực. "Mười bảy tuổi. Cô là ai mà ở tiệm?"
Tôi không trả lời được. Bà chống tay lên thành xe lăn, cố đứng dậy. Hai cái chân teo của bà run lên, đầu gối không giữ nổi sức nặng. Tôi chạy tới đỡ. Tay bà nắm cổ tay tôi, mấy ngón tay nhỏ xíu mà siết mạnh không ngờ.
"Gánh chè của tui đâu? Ai lấy gánh chè?"
Tôi nói không có ai lấy. Bà không nghe. Bà nhìn qua vai tôi, nhìn thẳng ra phía bếp, phía gác lửng. Mắt bà dừng lại ở đó, dù từ chỗ bà ngồi không thể thấy cái gánh. Rồi bà nói một câu tiếng Quảng, ngắn, giọng hờn, như con nít bị giấu đồ chơi.
Tôi đỡ bà ngồi xuống. Bà để yên cho tôi đỡ, nhưng miệng vẫn nói không ngừng. Bà nói về một cái hẻm, tôi nghe ra chữ "Thiên Hậu" lặp lại mấy lần, rồi chữ "chí mà phù", cái tên người Chợ Lớn gọi chè mè đen. Bà đếm, đếm bằng tiếng Quảng, đếm trôi chảy lên tới mấy chục, ngón tay gõ nhịp lên đùi như đếm tiền lẻ.
Tôi gọi điện cho má. Má đang dọn sạp, nghe tôi kể thì im một lúc.
"Bà nói tiếng gì?"
"Tiếng Quảng, má. Nói rành lắm."
"Bậy. Bà mày đếm tới mười còn trật."
Tôi đưa điện thoại lại gần miệng bà. Bà đang nói dở một câu thì im bặt. Bà nhìn cái điện thoại như nhìn một con vật lạ, rồi gạt tay tôi ra.
Khoảng nửa tiếng sau, mùi gừng nhạt dần rồi mất. Bà ngả lưng ra sau xe lăn, cái lưng còng trở lại như cũ. Mắt bà mờ đi, chớp chớp, rồi bà nhìn tôi.
"Diễm hả con? Mấy giờ rồi, má mày về chưa?"
Giọng bà ngoại tôi. Giọng người miền Tây lên Sài Gòn đã năm chục năm mà vẫn không bỏ được chữ "hông", chữ "nghen". Bà kêu khát nước. Tôi rót nước cho bà, tay tôi làm đổ ra ngoài một ít.
Tối đó má về, nghe tôi kể lại lần nữa, má chỉ nói chắc tại lẫn, người lẫn hay nói nhảm. Bà ngủ sớm, ngáy khe khẽ trên cái giường sắt kê sát tường.
Tôi lên lầu ngủ mà không ngủ được. Gần khuya tôi xuống bếp uống nước. Bếp tối, chỉ có ánh đèn đường lọt qua khe cửa sổ. Tôi đứng uống nước mà không dám ngước lên gác lửng.
Rồi tôi vẫn ngước lên.
Cái gánh vẫn treo trên móc. Nhưng trên lớp bụi dày ở nắp thùng bên trái, có một khoảng sạch hình chữ nhật, đúng cỡ một bàn tay áp xuống.