Chương 2: A Muội mười bảy tuổi
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Chiều hôm sau, rồi chiều hôm sau nữa, chuyện lặp lại.
Không đúng giờ nào. Có bữa nắng còn gắt trên mái tôn đầu hẻm, có bữa trời đã sập tối vì mưa. Nhưng lần nào cũng bắt đầu bằng mùi gừng nấu đường từ phía bếp, rồi tiếng chuông đồng trên gác lửng kêu hai tiếng. Tôi tập nghe mùi ấy như người ta nghe tiếng sấm trước cơn mưa. Ngửi thấy là tôi bỏ dở việc đang làm, đi lên nhà trước ngồi cạnh bà.
Bà ngồi thẳng lưng lên, nói tiếng Quảng, xưng là A Muội. Lần nào cũng hỏi gánh chè. Lần nào cũng hối, trễ rồi, lẩu bản la. Rồi chừng nửa tiếng, có bữa lâu hơn, bà xụi xuống, kêu tên tôi, hỏi má tôi về chưa.
Cuối tuần, má tôi đóng sạp sớm về để coi tận mắt. Má ngồi chồm hổm cạnh xe lăn từ lúc ba giờ chiều, ngồi tới khi mỏi chân phải đổi tư thế mấy lần. Gần năm giờ, mùi gừng bốc lên. Tôi thấy má khịt mũi, nhìn ra bếp.
Bà tôi ngồi thẳng dậy. Bà nhìn má tôi, rồi nói một tràng tiếng Quảng. Má tôi tái mặt. Nhưng lúc đó má lùi lại, đụng lưng vô cái tủ thờ, làm lư hương rung lên.
"Má," má tôi kêu. "Má, con là con Thu nè má."
Bà tôi lắc đầu, nói bằng tiếng Việt lơ lớ:
"Hổng biết. Chị bán gì? Chị cũng ở tiệm hả?"
Thứ hai, má dẫn bà đi khám ở bệnh viện quận. Bác sĩ là một ông đeo kính, nói nhanh, nghe kể xong thì gật đầu như đã nghe chuyện ấy cả trăm lần. Ông nói sa sút trí tuệ, người già hay sống lại hồi trẻ, có khi nhớ ra những thứ tưởng đã quên. Ông nói biết đâu hồi nhỏ bà có ở gần người Hoa, nghe nhiều nên bây giờ nói theo. Ông kê thêm thuốc ngủ.
Ra tới cổng, má tôi nói nhỏ:
"Hồi nhỏ bà mày ở Cần Đước. Mười bảy tuổi mới lên Sài Gòn. Ở đâu ra người Hoa."
Chiều hôm đó tôi lấy điện thoại ra ghi âm. Ghi trọn hai mươi phút bà nói. Rồi tối tôi đem qua nhà bà Tư Lai.
Bà Tư Lai là người Quảng, nhà ở cuối hẻm, bán xôi buổi sáng. Bà tám mươi mấy tuổi, ốm nhom, tóc búi củ hành, nói tiếng Việt rặt giọng Chợ Lớn. Bà ngồi trên ghế đẩu ở hiên, nghe đoạn ghi âm, cái quạt nan trong tay đứng yên.
"Con nhỏ này nói giọng Quảng Châu," bà Tư nói. "Giọng xưa. Bây giờ con nít hổng có nói vậy nữa."
Bà dịch cho tôi từng khúc. Phần lớn là chuyện vặt. Cô gái tên A Muội, ở tiệm chè Hứa Ký. Cô kể về lẩu bản, tức ông chủ, là chú Hứa, người mập, hay la. Thím Hứa thì hiền, hay cho cô bánh. Cô kể sáng phải dậy sớm lựa mè, rang mè, xay mè bằng cối đá. Chiều gánh chè ra bán ở cái hẻm sau chùa Bà Thiên Hậu, chỗ có bà Hồng bán nhang, có tiệm thuốc bắc Tế Nhơn, có ông thầy coi chữ ngồi dưới gốc me.
"Tiệm Hứa Ký," bà Tư nói, rồi gõ gõ quạt lên đầu gối. "Hứa Ký có thiệt nha. Hồi tao còn con gái. Bán chè với tàu hủ nước đường, ngon lắm. Sau giải phóng dẹp rồi."
"Bà nhớ tiệm ở đâu không bà?"
"Gần chùa Bà, cách có mấy căn." Bà nhìn tôi lâu. "Bà ngoại mày đâu có biết tiếng Quảng."
"Dạ, không biết."
Bà Tư không nói gì. Bà cho đoạn ghi âm chạy tiếp. Tới một khúc, bà ngưng lại, kéo cái điện thoại sát tai, nghe hai lần.
"Khúc này nó nói về một thằng thanh niên. Kêu là anh Tài. Thằng này người Việt, kéo ba gác chở nước đá cho tiệm. Chiều nào cũng ra hẻm ăn chè của nó. Nó nói anh Tài ăn chí mà phù hổng bao giờ trả tiền." Bà Tư cười móm. "Con nhỏ này thương thằng đó."
Tôi ngồi yên. Ông ngoại tôi tên Tài. Phạm Văn Tài. Hồi trẻ ông chạy xe ba gác, sau đó đạp xích lô, già thì ngồi giữ xe ở đầu hẻm cho tới năm ông mất.
Tôi không nói gì với bà Tư. Tôi cảm ơn rồi về.
Tối đó tôi kể lại với má. Má đang đếm tiền bán hàng, nghe tới tên ông ngoại thì ngưng tay. Rồi má đếm tiếp.
"Sài Gòn này cả ngàn ông tên Tài. Hồi đó chạy ba gác ở Chợ Lớn chắc cả trăm ông."
"Mà bà nói đúng tên tiệm có thiệt, má."
"Thì hồi trẻ bà có gánh mướn cho tiệm Tàu một thời gian. Chắc tiệm đó. Bà nhớ tên, nhớ người, giờ lẫn thì nói ra. Vậy thôi."
Má nói vậy rồi đứng dậy đi tắm. Tôi để ý má khoá cửa sau hai lần, lần thứ hai kéo mạnh tay hơn.
Sáng hôm sau, bà tỉnh. Tôi đút bà ăn cháo. Bà hỏi hôm nay thứ mấy, tôi nói thứ ba. Bà kêu tôi đi chợ mua giùm bà mớ rau dền về nấu canh. Bà vẫn là bà ngoại tôi, giọng Cần Đước, nhai chậm vì răng giả lỏng.
Tôi không định hỏi. Nhưng lúc đưa ly nước, tôi buột miệng:
"Ngoại, ngoại có biết ai tên A Muội không?"
Ly nước rơi khỏi tay bà. Nước đổ ướt vạt áo bà ba, ly nhựa lăn xuống gạch. Bà không cúi xuống nhặt. Bà nhìn tôi, rồi nhìn ra phía bếp, rồi lại nhìn tôi. Môi bà mấp máy mà không ra tiếng.
"Ngoại?"
"Ai nói với con tên đó?"
Tôi chưa kịp trả lời, bà đã quay mặt vô tường. Bà nằm xuống, kéo tấm mền lên tới cằm dù trời đang nóng. Cả buổi sáng bà không nói thêm câu nào.
Đêm đó tôi ngủ dưới nhà, trên cái ghế bố kê cạnh giường bà. Tôi uống thuốc ngủ của bà nửa viên, ngủ say như chết.
Gần sáng tôi tỉnh vì lạnh chân. Cửa trước vẫn khoá, then cài từ trong. Bà nằm nghiêng trên giường, ngủ, thở đều. Tôi định kéo mền cho bà thì thấy đôi dép nhựa của bà dưới gầm giường.
Đôi dép ướt sũng. Đế dép dính một lớp bùn đen, nhão, bám vô tới quai. Tôi cúi xuống. Mùi bùn xộc lên, cái mùi tanh nồng của nước cống và rác mục. Mùi kênh Tàu Hũ những ngày nước ròng.