☾ Truyện Ma Có Thật
← Ngoại đi bán chè mỗi chiều

Chương 10: Mâm chè ngày giỗ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Từ đêm mở rương, mùi gừng không trở lại. Ba tuần liền, chiều nào tôi cũng ngồi canh bên giường bà, chờ tới khi đèn đường bật sáng. Không có gì. Bà ngoại tôi ở lại trọn vẹn trong thân bà, yếu, ho, ngủ nhiều, nhưng tỉnh.

Tôi qua chùa Bà kể với bà Hồng. Bà nghe, lần hết một vòng chuỗi hạt, rồi nói:

"Nó chờ người ta chịu nói. Nói rồi thì nó hổng cần ngồi trong đó nữa." Bà nhìn ra gốc me. "Người lẫn như cái nhà quên đóng cửa. Năm chục năm nó đứng ngoài, bà ngoại cô lẫn rồi nó mới vô được."

Tôi hỏi tới đôi dép ướt, cái gánh, nồi chè. Bà Hồng nhún vai.

"Nó vô được cái thân thì nó làm việc nó. Đi bán chè. Ra bến đợi. Đòi ăn. Con nít đói lâu thì vậy."

Mùng ba tháng Tám, tôi qua nhà bà Tư Lai mượn cái cối đá xay bột. Tối đó tôi ngồi xay mè dưới bếp, quay tay từng vòng chậm. Bà ngoại đòi má đẩy xe lăn ra cửa bếp, ngồi coi tôi xay.

"Đổ nước vô từ từ," bà nói. "Nó dạy bà vậy. Hồi đó bà đứng rửa chén, nhìn nó xay mỗi sáng. Bà học lén."

Cái gánh tôi đem ra sân rửa từ chiều. Lau từng thanh đòn tre, chùi lớp thiếc trong thùng tới khi sáng lên. Lớp sơn đỏ bong gần hết, tôi để vậy. Cái chuông không lưỡi, tôi lấy dây thép mới cột lại đầu đòn gánh, đúng chỗ cũ.

Mùng bốn, chú Vĩnh tới từ sớm. Chú đem theo một tấm giấy đỏ, trên đó chú viết tên A Muội bằng chữ Hán, nét bút lông đậm, mực còn bóng. Chú dán tấm giấy lên một tấm ván nhỏ làm bài vị. Chú đem theo luôn tấm ảnh chụp trước tiệm năm sáu mươi, đã lồng khung.

Bà Hồng tới sau, xách một bó nhang lớn và một xấp giấy tiền. Bà chống gậy, tôi ra đầu hẻm đón.

Chúng tôi kê một cái bàn nhỏ trong phòng khách, cạnh bàn thờ ông ngoại. Bài vị ở giữa, tấm ảnh dựng bên cạnh. Trước bài vị là ba chén chè: chè mè đen tôi nấu từ khuya, chè đậu xanh phổ tai, tàu hủ nước đường gừng. Cái gánh đặt dưới chân bàn, hai thùng sơn đỏ mở nắp.

Má đẩy bà tới trước bàn. Bà bận cái áo bà ba trắng mới, tóc má chải gọn, cài kẹp. Bà ngồi nhìn tấm ảnh rất lâu. Nhìn đứa con gái cười bên gánh chè. Nhìn góc phải, chỗ đứa con gái ngồi bên thau chén, quay mặt đi.

Bà đưa tay cho tôi. Trong tay bà là cái lắc con cá.

Bà không đưa cho tôi. Bà chìa nó về phía chú Vĩnh.

"Của má chú. Tui trả."

Chú Vĩnh nhìn cái lắc trong bàn tay nhăn nheo đó. Chú không đưa tay ra. Một lúc lâu, chú cầm lấy, nhưng không bỏ túi. Chú đặt nó lên bàn, trước chén chè mè đen, ngay dưới bài vị.

"Má tui nói đáng lẽ hổng nên tin người ta," chú nói. "Má tui nói tới lúc mất. Cái này để đây cho nó. Ba tui nợ nó cái tát. Má tui nợ nó câu tin."

Bà Hồng thắp nhang, chia cho mỗi người ba cây. Bà khấn bằng tiếng Quảng, giọng đều đều, chậm. Chú Vĩnh khấn theo. Má tôi khấn tiếng Việt, lí nhí.

Tới bà ngoại. Tôi đỡ tay bà cầm nhang. Tay bà run, tàn nhang rơi lên vạt áo trắng.

Bà quay qua bà Hồng.

"Chị Hồng. Câu xin lỗi, tiếng mấy người nói làm sao?"

Bà Hồng nhìn bà. Rồi bà Hồng nói một câu ngắn, ba bốn tiếng, chậm từng chữ. Bà ngoại tôi nói theo. Lơ lớ, trật giọng, tiếng cao thành tiếng thấp, nghe vụng về như con nít tập nói.

Bà Hồng không cười. Bà Hồng nói lại lần nữa. Bà ngoại tôi nói theo lần nữa. Lần này đúng hơn một chút.

Rồi bà nói bằng tiếng Việt, giọng Cần Đước, rất nhỏ:

"Muội. Tao xin lỗi mày. Tao để mày đợi."

Không có mùi gừng. Không có tiếng chuông. Chỉ có khói nhang bay thẳng lên, không lay động, dù cửa trước mở toang và quạt máy đang chạy. Bà Hồng nhìn cột khói, gật đầu.

"Nó tới ăn rồi."

Chú Vĩnh và bà Hồng ở lại ăn cơm trưa. Bà ngoại ăn được nửa chén chè mè đen tôi nấu. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy bà ăn chè. Bà ăn chậm, mỗi muỗng một lần nhắm mắt. Ăn xong bà nói lạt, mè xay chưa mịn. Rồi bà cười.

Tối đó bà ngủ sớm. Tôi nằm ghế bố cạnh giường như mọi đêm. Gần sáng tôi tỉnh dậy vì yên lặng. Tiếng thở khò khè của bà đã ngưng.

Bà nằm nghiêng, quay mặt ra ngoài, không quay vô tường như mọi khi. Mặt bà yên. Tay bà đặt trên mền, mười đầu ngón tay đã lành vết cào.

Đám tang bà làm ba ngày. Bà Hồng tới thắp nhang mỗi chiều. Chú Vĩnh đứng trước di ảnh bà rất lâu. Người trong hẻm tới đông. Không ai biết chuyện năm sáu mốt, và má tôi cũng không kể.

Sau bốn mươi chín ngày, chú Vĩnh đem bài vị A Muội gửi vô hội quán người Quảng ở Chợ Lớn, nơi năm xưa đã lo chôn cất cô bằng ba trăm hai chục đồng để dành. Cái lắc con cá, chú gửi luôn vô đó, cúng cho hội quán. Trên sổ công đức, chú ghi tên người cúng là Lý Muội.

Má tôi bán sạp vải năm sau, mở một quầy chè nhỏ đầu hẻm. Má nấu chè đậu, chè bắp, tàu hủ nước đường. Má không nấu chè mè đen. Má nói có những món phải để người khác nấu.

Tôi trở lại vựa tạp hoá ở chợ Bình Tây làm sổ sách. Tôi ở luôn nhà bà với má.

Cái gánh tôi treo lại lên gác lửng, chỗ cũ, hai cái móc cũ. Bụi bám lại trên nắp thùng, tôi không lau. Chỉ mỗi năm mùng bốn tháng Tám, tôi mượn cối đá của bà Tư Lai, xay mè, nấu một nồi chí mà phù. Chén đầu tiên tôi đặt lên nắp thùng sơn đỏ, dưới cái chuông đồng không lưỡi.

Năm ngoái, lúc tôi vừa đặt chén chè xuống, cái chuông kêu một tiếng. Chỉ một tiếng, khẽ, như ai vừa đặt vai xuống dưới đòn gánh. Trong bếp không có gió.