☾ Truyện Ma Có Thật
← Ngoại đi bán chè mỗi chiều

Chương 9: Lắc vàng con cá

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tối đó má làm giấy xin cho bà về, ký cam kết tự chịu trách nhiệm. Bác sĩ lắc đầu, dặn uống thuốc đủ, sốt lại thì đưa vô liền.

Bà nằm trên giường sắt, lưng kê hai cái gối. Mặt bà hốc hác, môi khô nứt, nhưng mắt tỉnh. Tỉnh hơn bất cứ lúc nào từ hồi tôi về ở với bà. Bà nhìn tôi bước vô, nhìn cái túi xách trên vai tôi, rồi nhìn xuống gầm giường.

Má đưa tôi chiếc chìa khoá đồng nhỏ, dây cột là sợi chỉ đỏ đã sờn. Tay má lạnh.

Tôi kéo cái rương ra. Mùi long não bốc lên, cay xè. Những vết cào trên nắp đã khô, gỗ sần sùi quanh ổ khoá. Tôi tra chìa vô. Ổ khoá kẹt một chút rồi bật.

Bên trên là quần áo. Bộ áo dài màu hồng sen đã phai, cái áo bà bận trong ảnh cưới. Một xấp giấy tờ cột thun: giấy khai sinh của má, giấy hôn thú, sổ hộ khẩu cũ bìa xanh. Mấy tấm ảnh đen trắng. Một hộp thiếc nhỏ đựng kim chỉ, nút áo. Một chiếc nón lá nhỏ, mục vành.

"Dưới đáy," bà nói. Giọng khàn, nhỏ, nhưng rõ. "Lật tấm ván lót lên."

Tôi lấy hết đồ ra, xếp lên giường. Đáy rương lót một tấm ván mỏng, rời. Tôi lấy móng tay nạy lên.

Bên dưới là một gói giấy dầu nâu, gấp vuông vức, cột bằng sợi dây gai. Nhỏ, cỡ lòng bàn tay. Tôi cầm lên, nặng hơn tôi tưởng.

Má đứng sau lưng tôi, không thở.

Tôi tháo dây gai. Mở lớp giấy dầu thứ nhất, rồi lớp thứ hai. Bên trong có một mảnh giấy học trò gấp tư, và một cái lắc tay.

Cái lắc to bản, đen xỉn, nhưng chỗ cạnh vẫn ánh lên màu vàng. Mặt lắc chạm một con cá chép uốn mình, vảy cá khắc từng lớp, đuôi xoè ra như nước bắn. Tôi đã thấy nó. Trên cổ tay thím Hứa, trong tấm ảnh chụp trước tiệm năm sáu mươi.

Tôi quay lại nhìn bà. Bà nhìn cái lắc, không chớp mắt.

"Bà lấy," bà nói.

Má tôi ngồi phịch xuống mép giường.

Bà nói chậm, mỗi câu phải dừng lại thở. Có câu bà nói ra rồi im rất lâu mới nói tiếp. Tôi không ngắt lời. Má cũng không.

"Tối đó thím Hứa đi coi hát. Bà vô lau phòng. Cái lắc nằm trên bàn phấn, thím quên cất."

Bà nuốt nước miếng.

"Bà cầm lên coi. Bà mười tám tuổi, chưa từng cầm vàng. Bà đeo thử. Rồi nghe tiếng người đi lên cầu thang, bà hoảng, bà nhét vô túi áo."

"Rồi sao ngoại không trả?"

"Bà định sáng trả. Mà sáng thím la lên rồi. Cả tiệm đứng đó. Thím hỏi tối qua ai vô phòng." Bà nhắm mắt. "Bà sợ. Bà nói thấy con Muội."

Căn phòng im tới mức tôi nghe tiếng tủ lạnh dưới bếp chạy rì rì.

"Bà không có ghét nó," bà nói, mắt vẫn nhắm. "Ai cũng thương nó. Nó cười, nó rao, nó có anh Tài. Bà rửa chén sau bếp, không ai biết tên bà. Bà nói tên nó ra là... là cái miệng bà nói trước cái đầu."

Bà mở mắt.

"Mà bà không có rút lại."

Tôi mở mảnh giấy học trò. Giấy mỏng, mục, mép rách. Mực tím nhoè thành những vệt loang. Chữ Việt viết tay, nét chữ to và vụng, có chữ sai dấu, của một người mới học viết tiếng Việt.

Anh Tài. Em không có ăn cắp. Em đợi anh ở bến chợ Bình Đông, chỗ ghe đá. Em đợi anh tới khi anh tới. Muội.

"Đêm nó bị đuổi," bà nói, "nó tới kiếm bà ở chỗ bà ngủ sau bếp. Nó không biết bà là người nói. Nó tưởng ai thấy thì thấy, nó không hỏi. Nó nói bà là người Việt, bà biết nhà má anh Tài. Nó nhờ bà đem thơ qua cho ảnh."

Bà nhìn mảnh giấy trong tay tôi.

"Bà không có đem."

Má tôi bật khóc. Khóc không ra tiếng, hai vai rung lên.

"Ba ngày sau anh Tài tới tiệm kiếm nó. Bà ra nói với ảnh, con Muội ăn cắp, bị đuổi, đi theo ghe hàng về miệt dưới rồi." Bà thở ra một hơi dài, rít lên trong ngực. "Chiều đó người ta vớt nó lên. Ngay chỗ bến ghe đá. Ngay chỗ nó đợi."

Tôi nhớ tới bậc cấp bờ kè. Nhớ tới A Muội đứng trong nước, chỉ tay qua bên kia kênh. Tui nhờ người nói với ảnh. Tui đợi ba đêm.

"Ông có biết không, ngoại?"

Bà lắc đầu, rồi gật, rồi lắc.

"Ổng không biết bà nói láo. Ổng tin nó bỏ đi rồi chết. Ổng buồn cả năm. Bà lên gánh chè thế nó, chiều nào ổng cũng ra ngồi chỗ gốc me. Mà ổng không ăn chè nữa. Tới khi ổng cưới bà, ổng cũng không ăn chè."

Bà nhìn lên trần.

"Ổng mất, ổng kêu tên nó. Bà ngồi đó nghe không nổi."

Không ai nói gì nữa. Ngoài hẻm có tiếng xe đẩy bán hủ tiếu gõ, tiếng lóc cóc khô khốc đi ngang rồi xa dần.

Rồi tiếng lóc cóc tắt hẳn. Mấy con thạch sùng trên tường cũng im. Mùi gừng bốc lên.

Tôi đứng dậy. Cái chuông đồng không lưỡi tôi để trên bàn thờ từ bữa ở bờ kè, nằm im. Không có tiếng gì. Chỉ có mùi gừng, nồng hơn mọi lần, nồng tới mức má tôi đưa tay che mũi.

Bà ngồi thẳng dậy. Nhưng không phải cái kiểu ngồi của A Muội. Bà ngồi dậy một cách khó nhọc, run rẩy, hai tay chống xuống nệm. Mặt bà vẫn là mặt bà ngoại tôi. Chỉ có đôi mắt là đổi qua đổi lại, lúc mờ, lúc sáng, như ngọn đèn trước gió.

Đôi môi bà mấp máy. Giọng lơ lớ, giọng của A Muội, đứt quãng:

"Mùng bốn... tháng Tám. Giỗ tui. Năm chục năm... hổng ai cúng... ngoài con Hồng."

Rồi mắt bà mờ lại. Giọng bà ngoại tôi, giọng Cần Đước, nghẹn đặc:

"Diễm. Con làm giỗ cho nó giùm bà. Cho bà ngồi đó."