☾ Truyện Ma Có Thật
← Người bán hoa chợ đêm

Chương 7: Ngón tay thợ may

Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem

Tôi nói tôi làm thợ may. Ông Ba gật như đã biết trước câu trả lời.

"Thợ may thì kim đâm ngón trỏ, ngón cái. Đâm lung tung. Không ai bị đâm đúng đầu ngón giữa, một chỗ, mấy năm liền, tới chai thành cục như vầy."

Ông nhấp chè. Ông nói chậm, không lên giọng, như kể chuyện mùa màng.

"Bùa trên người anh ấy là của cô. Cô nuôi nó ba năm nay. Cô biết mà."

Ngoài vườn, anh Lâm đang phụ con trai ông Ba kéo vòi nước. Anh cười gì đó với người kia. Nắng trưa chiếu lên mấy luống hành xanh rì.

Tôi biết.

* * *

Tôi kể với ông Ba. Giờ tôi kể lại ở đây, lần đầu tiên, cho đủ.

Năm 2012, tôi thuê sạp sửa đồ ở chợ, cạnh một vựa hoa sỉ. Mỗi sáng có một người đàn ông chạy xe ba gác chở cúc từ Trại Mát lên giao cho vựa. Người đó hiền, ít nói, bó hoa ba vòng lạt, vừa khiêng xô vừa ngâm nga một cái điệu không lời. Có bữa xe hư, anh ngồi chờ ở sạp tôi, kể con gái anh năm tuổi, đêm không chịu ngủ nếu không nghe ba ngâm bài đó. Bài anh tự đặt ra. Vợ anh ở nhà coi vườn. Vợ anh người Quảng, tên Nhàn.

Tôi thương anh. Tôi biết như vậy là sai. Tôi thương tới mức không ăn được, không ngủ được, ngồi khâu mà đâm kim vô tay không thấy đau.

Dì tôi ở Bảo Lộc có bà hàng xóm tên bà Tám. Ai cũng biết bà có cái đó. Tôi xuống.

Bà Tám đưa cho tôi một chậu ngải, củ tím, lá như lá gừng. Bà dặn: mỗi sáng chích máu ngón giữa tay trái nhỏ vô gốc ba giọt, rồi lấy nước tưới ngải pha vô thứ gì anh ta uống hằng ngày. Đừng bỏ buổi nào. Đừng đem nó lên chỗ lạnh. Đừng để anh ta về gần chỗ cũ.

Mỗi sáng anh Lâm giao hoa xong, tôi mời anh ly cà phê sữa. Tôi pha ở sạp. Anh uống, cảm ơn, rồi về.

Bốn tháng sau, một buổi chiều cuối mùa họa mi, anh tới sạp tôi, đứng đó, không mang theo gì. Anh nói anh muốn đi đâu đó với tôi. Mắt anh trống trơn, hiền khô. Tôi khóa sạp, dắt anh ra bến xe, ôm chậu ngải trong cái thau nhựa. Tụi tôi xuống Bảo Lộc chiều đó.

Anh không hỏi lại nhà. Không hỏi lại vợ con. Ba năm, tôi nói anh từng ở trọ dưới Đức Trọng, làm thuê. Anh tin.

Bà Tám mất năm ngoái. Mạ tôi mất đầu năm nay. Tôi phải về giữ nhà. Tôi nghĩ ba năm là đủ. Tôi nghĩ người ta quen rồi thì không cần bùa nữa. Tôi nghĩ Trại Mát cách dốc Nhà Làng bảy tám cây số, vậy là đủ xa.

Tôi không biết vườn nhà anh sập. Tôi không biết chị Nhàn dắt con lên chợ đêm bán hoa. Hôm đầu tiên thấy anh đứng ở bậc thang, tôi nhìn xuống sạp hoa một lần và nhận ra ngay. Tôi chỉ không nói.

* * *

Ông Ba nghe hết. Ông không chửi. Ông không thở dài.

"Không ai bỏ thêm bùa nào lên người anh ấy cả. Cái người bán hoa đó không làm gì hết. Bùa của cô đang tàn. Cô đem ngải lên chỗ lạnh, cô đem anh ấy về gần chỗ cũ. Nó tàn tới đâu, anh ấy nhớ tới đó."

Tôi quỳ xuống nền đất. Tôi xin ông làm cho nó mạnh lại. Tôi nói tôi trả bao nhiêu cũng được, tôi bán nhà mạ cũng được.

Ông lắc đầu.

"Tôi chữa rắn cắn. Tôi không nuôi rắn."

Ông đứng dậy, nhìn ra vườn.

"Tôi nói cô nghe một câu, nghe hay không là việc của cô. Ngải đói thì nó ăn người nuôi. Cô cho nó ăn tiếp, nó không trả anh ấy lại cho cô đâu. Nó ăn cô trước. Ăn xong cô thì tới anh ấy. Người ta muốn về thì cô để người ta về."

* * *

Đường về tôi chở anh. Anh ngồi sau, im lặng. Lên khỏi đèo D'Ran, qua Trạm Hành, trời bắt đầu đổ sương. Gần tới khoảnh ruộng có ba dãy nhà kính rách, tôi tăng ga.

Anh vỗ vai tôi. Hai cái, nhẹ.

Tôi không dừng. Anh vỗ mạnh hơn. Rồi anh nắm vai tôi siết lại, siết tới đau. Tôi thắng.

Anh xuống xe, đi một mạch xuống bờ ruộng, qua lối cỏ cao tới gối, tới gốc hồng xiêm cụt. Anh ngồi xuống cạnh gốc cây, đặt tay lên mặt gỗ đã mục. Từ trên đường nhìn xuống, tôi thấy anh như một cái bóng ngồi giữa sương.

Rồi anh nói một tiếng. Gió thổi ngược, nhưng tôi nghe rõ.

"Nhàn."

* * *

Tối đó về tới nhà, anh vô buồng nằm, quay mặt vào vách. Tôi đứng bên cửa sổ.

Chậu ngải đã nứt. Không phải cái chậu sành. Cái củ. Nó trồi hẳn lên khỏi mặt đất, nứt toác làm đôi, ruột tím sẫm. Giữa thớ ruột có lẫn những sợi trắng mảnh, xòe ra như cánh cúc họa mi. Mùi cúc đắng hăng bốc lên đầy cả gian nhà.

Tôi đứng nhìn nó rất lâu. Rồi tôi đi lấy hộp kim chỉ.