Chương 8: Chậu ngải mùa cúc
Khoảng 5 phút đọc·4lượt xem
Tôi không nghe lời ông Ba.
Đêm đó tôi bưng chậu ngải vô bếp, đặt sát bếp than tổ ong, lấy cái mền cũ của mạ quấn quanh. Tôi ép hai nửa củ lại, quấn chỉ khâu áo, vùi xuống đất. Rồi tôi chích kim vào đầu ngón giữa, chỗ cái nốt chai màu tím. Máu ra chậm, đặc, sẫm hơn tôi nhớ. Tôi nhỏ ba giọt, rồi ba giọt nữa.
Sáng ra anh Lâm uống hết ly cà phê sữa có pha nước tưới ngải. Chiều đó anh không ra chợ. Anh không ngâm nga nữa, không hỏi tụi mình quen nhau ở đâu. Ông chủ xưởng gọi, nói thằng Lâm chà một góc khung cả ngày tới mòn lõm vô. Có buổi tối anh gọi tôi là chị.
Ngón tay tôi không lành. Vết chích rỉ nước vàng, móng đổi sang màu xám như móng người chết đuối. Tôi lạnh từ trong xương lạnh ra. Đêm nằm, tôi nghe trong bếp lá ngải cọ vào nhau sột soạt, như có ai đứng dậy rồi ngồi xuống.
* * *
Một chiều dọn sạp xong, chân tôi tự đi xuống chợ đêm, bước lên bậc thang thứ ba. Tôi biết mình đang làm gì. Tôi vẫn đứng.
Chị Nhàn ngẩng lên. Lần này chị không cúi xuống.
"Cô xuống đây ngồi. Đứng trên đó hoài, người ta tưởng cô khùng."
Tôi ngồi xuống cái ghế nhựa chị đẩy qua. Con Na làm bài dưới bóng đèn sạc. Chị bó hoa, mắt không nhìn tay, nói chậm như kể chuyện nhà người khác.
"Năm mười ba tui xuống Bảo Lộc rồi. Người vựa hoa nói ảnh đi với con nhỏ sửa đồ, tui hỏi lần ra. Ảnh đang chà khung ở một tiệm gỗ. Ảnh ngẩng lên, kêu tui bằng chị, hỏi chị mua chi."
Tay chị quấn lạt, ba vòng.
"Tui đi kiếm bà Tám. Bả nói ngải có chủ, chủ không buông thì thầy mô cũng chịu. Bả nói đồ dưới xuôi đem lên lạnh thì khó sống, người bị giữ mà về gần chỗ cũ thì nó tàn lẹ. Rứa thôi. Tui về, giữ vườn, chờ."
Tôi hỏi sao chị biết tôi về. Chị nói o Diệu kể với cả chợ chuyện bà già dốc Nhà Làng mất, con gái dưới Bảo Lộc lên giữ nhà. Năm đó vườn sập, chị cũng phải kiếm chỗ bán. Chị chọn chân cầu thang này, chỗ người dưới dốc Nhà Làng xuống chợ phải đi ngang.
"Tui không bỏ bùa chi hết. Tui ngồi đây. Ảnh còn nhớ thì ảnh tự tới."
Tôi hỏi bông cúc trong túi áo anh. Chị cười, lần đầu tôi thấy chị cười thật.
"Hồi ở vườn, tối mô ảnh cũng bẻ một bông bỏ túi, đem về cài tóc cho con Na. Bông mô gãy thì ảnh không vứt, ảnh vò ra vùi xuống gốc. Ảnh nói hoa của đất thì trả cho đất."
Tôi nhớ cái sọt rác ngoài hiên. Nhớ mấy cánh trắng rải quanh gốc ngải, cái mùi nhựa cúc ngấm trong đất. Đêm đó anh đã ra hiên lượm bông hoa tôi vứt, vùi vô cái chậu duy nhất trong nhà. Tôi nuôi ngải bằng máu tôi. Anh, trong giấc ngủ, nuôi nó bằng cái vườn của anh. Cái củ nứt ra có sợi trắng như cánh cúc là vì vậy.
Chị Nhàn đặt bó hoa xuống bạt.
"Bữa sương lớn đó, tui nằm mơ thấy tui ngồi đây bó hoa. Ảnh đứng trên bậc ba, chân không, đồ ngủ sọc xanh. Rồi cô chạy xuống, áo len khoác ngoài đồ ngủ, mang dép lê. Cô kéo ảnh đi. Tui thức dậy, tay còn mùi nhựa cúc."
Tôi không nói được gì. Cái bóng ngồi trong sương đêm đó, rút, gõ, quấn, là chị. Người còn sống, nhớ chồng tới nỗi hồn ngồi lại chỗ chờ.
"Giấy tờ ảnh tui còn giữ. Tui chưa khai ảnh mất." Chị nhìn con. "Tuần sau mẹ con tui về Quảng. Tui không chờ nữa."
Con Na ngâm nga. Cái điệu anh đặt cho nó hồi nó mới đẻ, những đêm anh thắp đèn nhà kính cho cúc khỏi nở sớm, bế con đi dọc mấy luống hoa.
* * *
Tối đó tôi không chích tay.
Tôi ngồi bên bếp nhìn chậu ngải tới khi than tàn. Rồi tôi gỡ cái mền của mạ, bưng chậu ra để ngoài hiên, giữa sương. Đêm đó lá ngải trong bếp không còn sột soạt. Tôi nằm nghe trên mái tôn sương nhỏ giọt, và nghe anh Lâm trở mình, lần đầu sau nhiều đêm.
Tuần sau sạp hoa dọn. O Diệu đưa tôi một bó cúc họa mi bọc giấy báo, quấn ba vòng lạt. Mép tờ báo có dòng chữ bút bi, tên một thôn dưới Quế Sơn.
Sáng hôm sau, buổi thứ bảy ly cà phê không có nước ngải, anh Lâm nhìn ly sữa.
"Em pha anh ly đen đi."
Tôi pha. Anh uống, ngồi im một hồi, rồi hỏi Trại Mát giờ ai trồng cúc.
Tôi đặt tờ báo lên bàn, cạnh ly cà phê. Tôi kể. Kể từ ly cà phê đầu tiên ở sạp sửa đồ, kể chậu ngải, kể ba giọt máu mỗi sáng. Anh nghe hết, không ngắt lời. Kể xong, anh không đập bàn, không chửi. Anh nhìn tôi như nhìn một người quen cũ không nhớ ra tên.
"Uyên nói thiệt với anh. Vậy là được rồi."
Anh đi chuyến xe sớm hôm sau, mang cái áo khoác với bó cúc. Tới cổng, anh dừng lại, không ngoái đầu, rồi đi.
* * *
Mùa cúc năm sau, tôi có việc xuống Đơn Dương. Qua khỏi Trại Mát, ba dãy nhà kính bên đường đã phủ ni lông mới, trắng tinh. Cạnh gốc hồng xiêm cụt có một cây hồng xiêm con cột vô cọc tre. Một đứa con gái cột tóc đuôi gà đang xách vòi tưới, miệng ngâm nga gì đó. Trong nhà kính có bóng một người đàn ông cúi xuống luống hoa.
Tôi không dừng xe.
Ngón tay tôi lành sau hai tháng. Cái nốt chai thì còn. Tôi vẫn sửa đồ trong chợ, vẫn ở nhà mạ. Mấy chị bán vải thôi chọc tôi chuyện ông chồng không cần dây xích, cũng không ai hỏi anh đi đâu.
Chậu ngải để ngoài sương một đêm thì rũ hết lá. Tôi không nỡ đập, đem vô đặt cạnh bếp, không tưới, không chích máu. Vậy mà năm nào, đầu mùa họa mi, đất khô trong chậu cũng nhú lên một mũi lá, gân tím. Tôi bẻ đi.
Có sáng tôi thức dậy trước khi kịp nghĩ gì, thấy mình đang ngậm đầu ngón giữa tay trái trong miệng. Và trong bếp thoang thoảng mùi nhựa cúc.