Chương 11: Ấm trà buổi sáng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tối đó anh không nấu cơm. Anh khoá cửa sắt, bỏ chìa lên bàn thờ, ngay cạnh tờ toa và gói thuốc lá Hero. Rồi anh ngồi xuống bộ ván, chờ.
Tôi đặt tấm hình đen trắng lên mặt ván, giữa hai chúng tôi. Rồi xấp toa thuốc.
Anh nhìn tấm hình rất lâu. Anh không cầm lên. Cái tay phải trên đầu gối anh co lại, rồi duỗi ra.
"A Uyển," anh nói. Lần đầu tiên tôi nghe tên bà.
* * *
Anh kể. Tiếng Việt lẫn tiếng Quảng Đông, có chỗ anh dừng rất lâu mới tìm ra chữ. Tôi không ngắt lời.
Anh cưới bà năm sáu mươi tư. Năm sau anh đánh bà lần đầu, vì bà đi chợ về trễ. Sáng ra anh nấu cao ngải cứu, thoa cho bà, xin lỗi. Bà tha. Mười năm như vậy.
Chiều nào anh cũng đứng ở cửa sắt chờ. Tối nào anh cũng khoá cửa, giữ chìa. Tối nào trước khi ngủ anh cũng bắt mạch cho bà, ba ngón tay đặt lên cổ tay bà, nghe nó đập nhanh vì sợ.
"Ngộ bắt mạch người ta cả đời," anh nói. "Mà cái mạch ngộ biết rõ nhất là mạch đàn bà sợ chồng."
Đêm tháng Ba năm bảy mươi lăm, bà than chóng mặt. Anh viết cho bà một toa bổ huyết, cái toa nhẹ nhất anh từng viết. Tối hôm sau bà về trễ. Anh không nhớ anh giận vì gì. Anh chỉ nhớ bà chạy lên cầu thang, anh chạy theo, và tay anh nắm được cổ tay bà ở bậc gần chót. Bà giật ra.
"Ba chục năm," anh nói. "Ngộ không uống rượu, không la ai. Ngộ chữa cho đàn bà. Ngộ tưởng vậy là trả. Rồi ngộ nằm chết trên tấm phản, ba ngày, nghe người ta đi qua cửa mà không ai gõ."
"Ngộ nghĩ, vậy là đúng. Vậy là phần của ngộ."
Rồi đêm đó, chồng tôi té xe cách nhà anh hai con đường. Anh nói hồn Khải văng ra, đứng giữa đường, lảo đảo, mùi rượu nồng. Anh đi ngang. Anh nhìn thấy cái xác nằm đó, cửa mở.
"Ngộ biết nó là người gì. Nhìn một cái là biết. Nó giống ngộ hồi đó."
"Ngộ vô. Ngộ đi ra khỏi nhà, cửa nhà ngộ đóng lại sau lưng. Nó đứng ngoài, thấy cửa còn hé, nó chui vô núp. Rồi nó kẹt trong đó. Chỗ của ngộ."
Tôi hỏi, vậy cái tay phải.
"Nó kéo cái xác của nó," anh nói. "Đêm nào nó cũng giật cửa bên kia, cái tay này giật theo bên đây."
Tôi hỏi tới tờ toa trong bệnh viện, tới cái đêm tờ giấy tự mở ra trên bàn thờ.
"Hồi đó ngộ chưa ở yên trong xác. Ngộ đi tới đi lui. Cái toa đó là cái cuối cùng ngộ viết cho A Uyển. Tay ngộ chỉ nhớ có nó."
"Lần đầu ngộ đặt tay lên cổ tay cô trong nhà thương, ngộ nghe ra cái mạch đó. Mạch A Uyển. Ngộ tưởng lần này ngộ làm khác được."
Anh kéo tay áo tôi lên. Nhẹ. Ba vệt đỏ còn đó.
"Mà tay ngộ không chịu khác," anh nói.
* * *
Sáng hôm sau anh không pha trà. Anh đưa chìa khoá cho tôi, biểu tôi chở anh qua nhà cũ.
Phát còn ở đó, đang khiêng mấy bao sách ra xe ba gác. Thấy anh, Phát đứng sững, cái bao sách rớt xuống chân. Anh gật đầu chào Phát, gọi một cái tên ở nhà nào đó bằng tiếng Quảng Đông. Phát lùi lại, mặt tái. Bà Sáu ra cửa, tay cầm bó nhang chưa đốt.
Anh bước vô nhà. Anh nằm xuống nền gạch, ngay trong cái hình chữ nhật sạch bụi chỗ tấm phản từng kê. Anh đặt ba ngón tay trái lên cổ tay phải.
"Cô ra ngoài," anh nói. "Cửa để vậy. Đừng mở thêm, đừng đóng. Để nó tự đi."
Tôi ra đứng ngoài hẻm, cạnh bà Sáu. Qua cánh cửa sắt kéo hở một nửa, tôi thấy anh nằm đó, ngực lên xuống chậm dần. Mùi đương quy bay ra, đặc, ấm như nồi thuốc vừa mở nắp. Rồi nó nhạt. Nhạt nữa.
Cái tay phải co lên khỏi nền gạch một lần, bấu vô không khí. Rồi rơi xuống.
Rồi tôi nghe tiếng bước chân. Từ trong nhà đi ra. Lệt xệt, lảo đảo. Nó đi ngang qua tôi, sát tới mức mùi thuốc lá với mùi rượu đế phả vô mặt tôi. Nó không dừng lại. Nó không kêu tên tôi. Nó đi ra đầu hẻm, qua cái miếu đỏ, rồi mất.
Bà Sáu đốt bó nhang, cắm xuống khe gạch trước cửa. Bà lạy ba lạy, khấn tiếng Hoa.
Tôi bước vô. Tôi quỳ xuống, đặt ba ngón tay lên cổ tay người nằm trên nền gạch, như tôi đã thấy làm cả trăm lần. Tôi không nghe thấy gì.
* * *
Giấy của bệnh viện quận ghi chết do biến chứng chấn thương sọ não, máu tụ tái phát. Công an phường hỏi tôi sao chồng tôi chết trong nhà người khác. Phát nói anh Khải qua phụ dọn đồ, nằm nghỉ rồi không dậy. Bà Sáu nói y vậy. Không ai hỏi thêm.
Má chồng tôi lên nhận xác, đưa về Cần Giuộc chôn ở góc vườn. Bà cho tôi thắp nhang. Lúc tôi cắm nhang xong, bà nói, không nhìn tôi: "Nó về với tao rồi." Rồi bà quay vô nhà. Từ đó tôi không về Cần Giuộc nữa.
Nhà ông Lương bán làm kho vải. Bà Sáu nói từ bữa đó cái cửa sắt không giật nữa. Phát lấy tấm hình mợ đem lên chùa gửi. Xấp toa thuốc tôi với bà Sáu đốt ngay bậc cửa, đốt từng tờ, tờ bổ huyết đốt sau cùng.
Tôi bán tiệm sửa xe, giữ sạp vải. Tôi ở một mình trong căn nhà ống. Tôi mặc áo tay ngắn ra chợ. Tối nào tôi cũng kéo cửa sắt, khoá trong, giữ chìa trong túi áo mình.
Chỉ có một chuyện tôi không bỏ được.
Mỗi sáng tôi vẫn dậy khi trời còn tối, nấu nước, tráng cái ấm đất ba lần, pha trà, ngồi ở bậc cửa sau nhìn ra giếng trời. Trà đắng mà hậu ngọt. Cái hộp thiếc đựng trà trên kệ bếp, anh để lại từ hồi nào tôi không biết. Tôi pha mỗi sáng đã gần hai năm. Nó vẫn đầy tới nắp.