Chương 9: Hai mươi cân thóc giống
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Tôi kể ở hiên nhà, trong tối. Đèn không thắp được nữa, Thắm châm ba lần, Khánh châm hai lần, bấc không bắt. Thắm bưng ra một bát nước chè, và ba người ngồi quanh cái bát như quanh một ngọn lửa không có.
Tôi kể từ mùa đông năm Kỷ Hợi.
Mẹ tôi ho ra máu từ tháng Mười. Thầy thuốc xã bảo lao, bảo đưa lên tỉnh, mà lên tỉnh thì tiền đâu. Ông lang Bẩy ở chợ Nội có một thang thuốc, bảo uống mười thang thì cầm được, mỗi thang đổi bằng hai cân gạo. Nhà tôi vừa vào hợp tác, thóc nộp hết, còn mỗi cái nồi đồng với đôi trâu của tập thể.
Khoát là bạn cày của tôi. Không phải mấy vụ. Từ năm mười sáu tuổi, hai đứa cùng một đội, cùng ngủ ở lều coi đồng, cùng về làng Bùi ăn giỗ nhà anh ấy. Anh ấy ở rể làng Ngòi là vì tôi rủ. Tôi dắt anh ấy sang nhà ông Khiển xem mặt Nhàn.
Cuối tháng Mười một ta năm ấy, Khoát về làng Bùi ăn giỗ bố ba hôm. Trước khi đi anh ấy đưa tôi chìa khoá kho đình, bảo lỡ hợp tác cần mở thì mày mở hộ, ai hỏi thì bảo tao gửi mày. Tôi cầm chìa khoá. Đêm thứ hai, tôi mở kho.
Hai mươi cân thóc giống. Tôi đong bằng cái thúng, gánh ra chợ Nội lúc chưa sáng, đổi lấy mười thang thuốc. Mẹ tôi uống, cầm được máu, qua Tết, sống thêm bốn năm. Khoát về, tôi trả chìa khoá, không nói gì. Tôi định sẽ nói. Tôi định đến vụ chiêm, có công điểm, tôi bù thóc vào rồi nói. Tôi chưa kịp.
Mở kho thấy hụt. Ông Bái họp đội, bảo người giữ chìa khoá chịu. Khoát bảo có cho một người mượn chìa khoá một lần. Ông Bái hỏi ai. Khoát nhìn tôi. Tôi ngồi ở góc đình, cúi mặt. Khoát nói, cháu không nhớ.
Khánh ngồi im. Thắm ngồi im. Tôi kể tiếp.
* * *
Đêm trước hôm kiểm điểm, anh ấy đi khắp làng. Tôi biết anh ấy đi. Tôi nằm nghe từng nhà tắt đèn. Tôi ngồi dậy, ra phản, để tay lên bầu đèn. Thắm trong buồng, mẹ tôi trong buồng, cả hai thở nhẹ như không dám thở.
Tiếng guốc dừng ở cổng. Gõ ba tiếng. Rồi gọi, Tịch ơi.
Tôi không trả lời. Anh ấy nói tiếp, không to, như nói với mình:
"Tao biết là mày. Tao không nói đâu. Mẹ mày cần thuốc, tao biết. Tao chỉ cần mày ra đây, nói với tao một câu, nói là mày lấy, nói với một mình tao thôi, rồi mai tao nhận. Tao nhận được, vì tao biết tại sao. Còn tao không chịu được là cả cái làng này tắt đèn, mà mày cũng tắt."
Tôi không ra. Tôi thổi đèn.
Anh ấy đứng đấy lâu. Lâu đến mức tôi tưởng anh ấy đi rồi. Rồi anh ấy nói câu cuối. Tôi nhớ từng chữ, hai mươi sáu năm nằm nghiêng về phía cửa tôi nhẩm nó mỗi đêm:
"Tao đếm được bảy nhà tắt đèn rồi, Tịch ạ. Nhà mày tao không đếm. Mày tự đếm lấy."
Tiếng guốc đi ngược ra đầu làng. Chậm. Sáng ra người ta thấy anh ấy trên cành gạo.
Tôi bảo người làng tôi vừa đi dân công về, không biết gì. Thắm không cãi. Mẹ tôi không cãi. Mẹ tôi chết năm sáu ba. Thắm hôm nay vẫn ngồi đây, trong tối, không nói.
Tôi không bù thóc nữa. Chẳng còn ai để bù. Mỗi tháng Chạp tôi ra gốc gạo cắm một nén hương, cắm lúc chưa sáng để không ai thấy. Tôi không đem đèn qua đấy bao giờ. Tôi nghĩ nếu tôi không đem đèn thì anh ấy không thấy tôi. Tôi nghĩ thế hai mươi sáu năm.
* * *
Kể xong tôi không nhìn Khánh. Tôi nhìn ra sân. Trời chưa sáng.
Khánh đứng dậy. Anh ta đứng rất lâu, rồi nói, giọng không run:
"Bố cháu đợi một câu. Bác nói với cháu rồi. Nhưng cháu không phải người bố cháu đợi."
Anh ta đi ra cổng, dắt xe. Thắm chạy theo đưa nắm cơm. Anh ta cầm, không chào tôi, đạp xe đi khi trời còn xám.
* * *
Chiều hôm ấy tôi ra gốc gạo lúc mặt trời còn cách luỹ tre một con sào. Tôi ngồi vào hõm rễ. Tôi không gạt rơm.
Làng lên đèn. Tay tôi giơ lên, tôi để nó giơ. Một, nhà ông Bái. Hai, nhà bà Nhỡ.
Tôi đếm to, không thì thầm. Ba. Bốn. Năm. Sáu. Bảy, nhà cụ Khản.
Ngón tay dịch sang phải. Về xóm Trên. Về luỹ tre. Về ngọn sáng cuối làng. Bấc không bắt lửa, Thắm đốt một mảnh giẻ tẩm dầu đặt trong bát, khói mù mịt, sáng yếu, nhưng là ngọn sáng.
Tôi nói. Tiếng tôi khàn như tiếng người ấy.
"Tám. Nhà tôi. Tôi lấy."
Ngọn sáng cuối xóm Trên tắt.
Tôi ngồi đợi bàn tay lạnh đặt lên cổ tay. Không có gì. Tôi quay đầu sang bên. Hõm rễ cạnh tôi trống, rơm đã khô, khô như rơm phơi ba nắng. Mùi rơm ướt không còn. Chỉ có mùi đất, mùi gạo già, mùi khói rạ từ làng.
Tôi ngồi đấy đến khuya. Không ai đến. Tôi về, trong nhà tối om, Thắm ngồi ở phản, cái bát đựng giẻ cháy đã nguội.
"Nó tắt lúc ông nói à."
"Ừ."
"Thế là xong chưa."
Tôi bảo, chắc là xong.
Tôi tưởng thế. Tôi tưởng sai.