Chương 8: Tiếng gõ cổng
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Cổng nhà tôi là hai cánh tre ghép, buộc bằng lạt, đóng lại chỉ để cho có. Tiếng guốc dừng ở ngoài cổng.
Rồi gõ. Ba tiếng. Chậm. Không phải gõ vào cổng tre, tiếng tre kêu khác. Đây là tiếng gõ vào gỗ, vào cánh cửa gỗ lim, cánh cửa nhà tôi hồi ấy, trước khi tôi dỡ đi làm chuồng trâu.
"Tịch ơi."
Giọng ấy. Hai mươi sáu năm tôi không nghe, mà nghe một tiếng là nhớ hết. Khàn, trầm, kéo dài chữ cuối. Gọi tên tôi như gọi người ngủ dậy đi cày sớm.
Thắm đứng bật dậy, lùi vào buồng. Tôi ngồi im trên phản. Tay tôi đã đặt lên bầu đèn từ lúc nào. Tay nóng, bầu đèn nóng, tôi không rụt lại.
"Tịch ơi. Mở cửa."
Tôi nhìn bàn tay mình trên bầu đèn. Hai mươi sáu năm trước bàn tay này cũng ở đúng chỗ này. Lúc ấy nó đã cúi xuống thổi. Tôi nhìn nó thật kỹ, như nhìn tay người khác. Rồi tôi nhấc nó ra. Tôi cầm quai đèn, đứng dậy, đi ra cửa.
Thắm gọi với từ trong buồng, ông đừng. Tôi không quay lại.
* * *
Sân tối, mưa phùn đã tạnh, đất ẩm. Tôi đi qua sân, ngọn đèn soi được một vòng bằng cái nong trước chân. Cổng tre đóng. Tôi kéo lạt, mở.
Ngõ không có ai.
Tôi giơ đèn lên. Ngõ nhà tôi dài chừng hai chục bước, hai bên là dậu cúc tần, ra đến đường xóm thì có gốc duối già. Không ai đứng ở gốc duối. Không ai đứng đâu cả.
Tôi cúi đèn xuống. Trên đất ẩm, ngay trước cổng, có một đôi dấu guốc. Guốc mộc, bản to, gót mòn lệch về bên ngoài. In sâu, rõ. Đứng lâu mới in sâu thế.
Từ đôi dấu ấy, một hàng dấu guốc đi ngược ra đầu ngõ. Cách nhau xa, bước dài. Bước của người đã quyết.
Tôi đi theo.
Tôi đi theo hàng dấu guốc ra khỏi ngõ, qua gốc duối, xuôi đường xóm Trên. Đèn soi từng dấu một. Dấu đi giữa đường, không tránh vũng, không tránh phân trâu. Qua nhà ông giáo Thuần, cửa đóng, trên cửa chữ phấn trắng mờ mờ.
Qua giếng. Qua đình. Đình có ánh lửa nhỏ, Khánh đang đốt đống củi sưởi, tôi không rẽ vào. Hàng dấu guốc đi thẳng ra đầu làng.
Tôi đi qua nhà ông Bái. Qua chỗ đường rẽ. Đến cây gạo.
Đây là lần đầu tiên tôi cầm đèn đến gốc gạo. Hai mươi sáu năm, ngày nào tôi cũng đi qua đây lúc nhá nhem, chưa một lần đem đèn. Tôi vẫn bảo là tiếc dầu.
Hàng dấu guốc dừng ở cái hõm rễ. Người ấy ngồi đấy.
Tôi giơ đèn lên.
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy mặt. Mặt Khoát. Không phải mặt người chết treo, không tím, không lè lưỡi như người làng vẫn kể. Mặt Khoát năm hai mươi sáu tuổi, hai gò má cao, cằm vuông, tóc cắt ngắn kiểu dân công.
Mặt ấy nhìn tôi. Không giận. Không buồn. Chỉ mệt, mệt như người thức trắng một đêm rồi lại phải ra đồng.
Môi Khoát mấp máy. Không thành tiếng. Tôi đọc được. Mày đến rồi à.
Rồi Khoát giơ tay. Tay phải, ngón trỏ cụt một đốt. Không chỉ vào làng. Chỉ vào cái đèn trong tay tôi.
Tôi thấy cánh tay cầm đèn của mình run lên. Tôi thấy mình cúi xuống. Tôi thấy môi mình chúm lại. Tôi không muốn, mà cả người tôi làm, cái người đã làm việc này một lần và thuộc nó như thuộc đường cày.
Tôi thổi.
Tối. Tối đặc, tối như nhét bông vào mắt. Mùi dầu khét, mùi rơm ướt. Và tiếng nói ngay trước mặt tôi, gần đến mức tôi cảm thấy hơi lạnh trên trán:
"Lại tắt."
Chỉ thế. Không trách. Nói như người nhận xét trời sắp mưa.
Chân tôi khuỵu xuống. Tôi quỳ trên rễ gạo, cái đèn lăn đi đâu không biết. Tôi há miệng. Tôi muốn nói. Cái câu ấy, cái câu hai mươi sáu năm tôi nằm nghiêng về phía cửa để giữ trong ngực. Nó lên đến cổ. Nó mắc ở đấy.
Có ánh lửa từ phía đình. Tiếng chân chạy. Khánh cầm một thanh củi cháy dở, soi vào mặt tôi.
"Bác Tịch. Bác làm sao thế."
Tôi nhìn vào hõm rễ. Trống. Rơm ướt, xẹp xuống hình một người vừa đứng lên.
Khánh đỡ tôi dậy. Anh ta nhặt cái đèn, lắc, dầu còn, bấc còn. Anh ta châm vào thanh củi. Lửa bén vào bấc, rụt lại thành một hạt xanh, rồi tắt. Anh ta châm lần nữa. Lại tắt.
Anh ta đưa cái đèn cho tôi, không nói gì về cái đèn. Anh ta nói:
"Cháu nghe bác nói chuyện với ai ngoài này. Cháu nghe bác gọi tên bố cháu. Bác bảo với cháu là bác với bố cháu chỉ cày chung mấy vụ."
Tôi cầm cái đèn chết. Tôi nói:
"Về nhà bác. Bác kể."