☾ Truyện Ma Có Thật
← Đuốc nứa sau cổng đá

Chương 1: Vòng bạc ngày cưới

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Bản tôi là Nà Mạ, nằm lưng chừng một quả núi đá thuộc huyện Nguyên Bình, Cao Bằng. Từ đường ô tô vào bản phải lội con suối Khuổi Mạ rồi leo một con dốc đất đỏ dài chừng hai cây số. Nhà nào cũng có rào đá xếp khan cao ngang ngực. Nhà tôi ở cuối bản, sát chân núi. Cổng là hai trụ đá, giữa có ba thanh chắn gỗ nghiến cài ngang vào lỗ đá, ai vào thì rút ra, vào rồi lại cài, để trâu khỏi lạc.

Năm 2004 tôi hai mươi bốn tuổi, cưới Hoan.

Hoan người bản Khuổi Khon bên kia núi, đi tắt qua đèo mất nửa buổi. Tôi gặp cô ở hội lồng tồng mùa xuân năm ấy, lúc người ta ném còn qua vòng tròn treo trên cây nêu. Cô ném trượt cả ba lần, quả còn rơi đúng chân tôi. Tôi nhặt lên đưa, cô không cầm, chỉ lấy vạt khăn chàm che miệng cười. Đêm ấy cô hát lượn với bọn con gái bản tôi, giọng không to mà trong, như nước khe chảy qua ống bương.

Mẹ tôi không chê Hoan. Mẹ chê cái thách cưới. Nhà Hoan thách một con lợn tám chục cân, năm chục lít rượu ngô, ba chục cân gạo nếp, ba triệu tiền mặt và một chiếc vòng bạc cưới. Bố tôi mất từ năm tôi mười lăm tuổi. Nhà chỉ còn mẹ, tôi, và em gái tôi là Thơm đang học nội trú dưới huyện.

Tôi vay ngân hàng xã năm triệu. Còn thiếu, tôi tìm ông Quế, người dưới xuôi lên bản tuyển thợ đi làm công trình thủy điện trên Kon Tum. Ông ứng trước cho tôi bốn triệu, tôi điểm chỉ vào giấy, hứa làm đủ ba năm, trừ dần vào lương. Mẹ biết chuyện, ngồi bên bếp rất lâu, chỉ nói một câu.

"Lấy vợ mà phải bán thân đi đất người."

Rồi mẹ không nhắc nữa. Mẹ lo cỗ, mẹ đi mượn từng cái mâm.

Chiếc vòng tôi mua ở chợ phiên Tĩnh Túc, của ông Vần, thợ bạc người Nùng ngồi ở góc chợ đã mấy chục năm. Vòng đúc đặc, to bằng ngón tay út, chạm một dây hoa mạ chạy vòng quanh. Ông Vần bảo bạc của ông là bạc thật, đeo càng lâu càng sáng. Hôm đón dâu, tôi đeo cho Hoan ngay ở cầu thang nhà sàn nhà ngoại. Trời âm u mà chiếc vòng vẫn sáng như có nước chảy trên đó.

Hoan về nhà tôi tháng Mười một. Cô dậy sớm hơn mẹ, nhóm bếp, nấu cám. Mẹ không khen, nhưng mẹ để phần cho cô cái đùi gà trong bữa cúng.

Ra Giêng, qua rằm, đoàn thợ của ông Quế lên đường. Bản tôi đi ba người, tôi, thằng Pảo nhà bên và anh Dìn ở đầu bản. Hẹn nhau ở bến suối từ lúc gà gáy đợt hai.

Sáng ấy trời còn tối đặc. Hoan ra cổng tiễn tôi, tay cầm một bó đuốc nứa. Nứa khô bó chặt bằng lạt, châm một đầu, cháy kêu lách tách, mùi nhựa ngọt và khét. Cô đứng sau ba thanh chắn, không rút ra. Tôi đã ra ngoài ngõ rồi, quay lại nắm tay cô qua khe gỗ.

"Lần sau anh về, em ra tận ngõ đón anh nhé."

Cô lắc đầu, cười.

"Em đứng trong này thôi. Dâu mới mà chạy ra đường, người bản cười cho. Anh về muộn thì em đốt đuốc đứng ở đây, anh nhìn lên là thấy."

Tôi đi xuống dốc. Đến khúc ngoặt cuối, tôi ngoảnh lại. Đốm lửa vẫn đứng yên trên đầu dốc, nhỏ như con đom đóm, không lay.

Công trình nằm trong thung sâu, cách thị trấn gần nhất sáu chục cây số đường đất. Chúng tôi ở lán lợp tôn, ban ngày khoan đá mở hầm dẫn dòng, tối về mặt mũi trắng bụi như người bột.

Hoan biết chữ, học hết lớp chín. Thư cô đến đều, cứ hơn tháng một lá, chữ tròn và nghiêng. Cô kể ngô đã trổ cờ, con lợn sề đẻ tám con. Lá thư tháng Sáu cô viết ngắn hơn, cuối thư có một dòng gạch đi gạch lại, chỉ đọc được mấy chữ: em có chuyện này, đợi anh về em nói.

Sau lá thư ấy thì không còn thư Hoan nữa.

Cuối năm, thư nhà là chữ của Thơm. Thơm viết nhà vẫn khỏe, chị Hoan bận nương, tay đau không cầm bút được, anh cứ yên tâm làm, gửi tiền về cho mẹ. Tôi nghĩ chắc cô giận tôi đi lâu.

Tết Bính Tuất, ông Quế cho về. Thằng Pảo ở lại ăn Tết trong lán vì nợ cờ bạc, anh Dìn ốm. Tôi về một mình.

Tôi vào đến bến suối thì trời đã sẫm. Tháng Chạp, sương núi xuống thấp, ướt cả vai áo. Tôi leo dốc, ba lô nặng quần áo mới cho Hoan và mẹ, một túi kẹo lạc cho Thơm. Gần đến đầu dốc, tôi ngửi thấy mùi nhựa nứa cháy, ngọt và khét, lẫn trong mùi sương.

Hoan đứng ở cổng.

Áo chàm, khăn chàm quấn đầu, tay cầm bó đuốc nứa. Lửa đuốc soi nửa mặt cô, gầy hơn tôi nhớ, hai gò má nhô lên. Cô đứng sau ba thanh chắn, đúng chỗ cô đã đứng sáng hôm tôi đi, như cô chưa rời đi đâu.

Tôi gọi tên cô. Cô cười, không nói. Cô rút từng thanh chắn ra cho tôi vào, mà bàn chân cô không nhích ra khỏi bậc đá.

Tôi ôm cô ngay giữa cổng. Người cô lạnh như vừa đi sương về. Tôi cầm cổ tay cô. Chiếc vòng bạc vẫn đó, nhưng không còn cái sáng nước chảy nữa, mờ đi như có ai hà hơi lên. Tôi nghĩ làm nương thì bạc nào chẳng xỉn.

"Anh về rồi," cô nói, khẽ như sợ người khác nghe.

Con chó vàng nhà tôi chạy ra đến giữa sân thì dừng. Nó không sủa mừng như mọi lần. Nó cúp đuôi, rên ư ử rồi chui tọt xuống gầm sàn.

Mẹ tôi đứng ở đầu cầu thang, tay cầm đèn dầu. Mẹ nhìn tôi, rồi nhìn sang bên cạnh tôi, chỗ Hoan đang đứng cầm đuốc. Cái đèn trong tay mẹ chao một cái.

"Mày về... có một mình à?"

Tôi cười, bảo thằng Pảo ở lại Tết với cai rồi. Mẹ không hỏi nữa. Mẹ quay vào bếp, quên cả đỡ cái ba lô trên vai tôi.