Chương 2: Cái bồ trấu
Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem
Những ngày đầu ở Ngọc Trì, nhà tôi sống như người đi nhờ đò, cái gì cũng rón rén. U tôi mang chiếc nhẫn vàng duy nhất ra đổi lấy hai thúng thóc và một cái nồi đất. Bà nội tôi ngồi trên cái phản tre ông Khóa để lại, ho khù khụ suốt đêm, sáng ra lại khâu vá cho người trong xóm lấy bát gạo. Tôi dắt thằng Cốm ra bờ ao mò ốc, nhặt rau tàu bay mọc dọc chân đê.
Người xóm Đình tử tế, nhưng ít ai bước qua cổng nhà tôi. Bà Đồ Hậu ở bên kia rặng duối hay đứng ở bờ rào gọi sang, đưa cho nắm rau muống, mớ khoai lang. Đưa xong bà về ngay, mắt không nhìn vào gian bếp. Con Bống cháu bà, trạc tuổi tôi, đi chăn trâu cùng tôi được mấy hôm thì bảo nó không được sang nhà tôi chơi.
"Bà tao bảo nhà ông Khóa có vía."
Tôi hỏi vía gì. Nó lắc đầu, vụt cho con trâu một roi rồi chạy.
* * *
Cái bồ trấu cạnh bếp là việc của tôi. Sáng nào tôi cũng xúc trấu ra đun, tối nào cũng phải xem cái bồ có đậy kín tấm ván không. U dặn, Tây nó lục nhà thì nó xem chỗ nào trống, chỗ nào có vết kéo. Bồ trấu phải đầy, phải nặng, phải trông như cả năm không ai xê dịch.
Mỗi tối, trước khi đi ngủ, bà nội tôi chống gậy ra bếp. Bà thắp một nén hương, cắm vào kẽ đất ngay cạnh cái bồ, chắp tay vái ba vái. Tôi nghe bà khấn rất khẽ, câu được câu mất.
"Người nằm dưới ấy thương cho nhà con trú nhờ. Nhà con là đàn bà trẻ con, không làm gì phạm đến người."
Tôi hỏi bà người nằm dưới ấy là ai. Bà gõ nhẹ gậy vào chân tôi.
"Nhà người ta, đất người ta, thì phải xin. Đi đâu cũng thế. Hỏi lắm."
Tôi nghĩ đến người đàn ông ngồi trong góc hầm. Người ấy không nằm, người ấy ngồi. Nhưng tôi không nói. Bà đã bảo hỏi lắm.
* * *
Khoảng mười hôm sau lại có tàu bay, lần này là ban ngày. Tiếng nó gầm từ phía sông lên, khác tiếng è è hôm trước, nghe như xé vải. Rồi một tiếng nổ phía bến đò Ngọc Trì, rồi một tiếng nữa. Mái rạ rung, bụi rơi lả tả. U tôi kéo bồ trấu, hất tấm ván, đẩy cả nhà xuống.
Lần này có ánh sáng ngày lọt qua cái lỗ thông hơi khoét chéo ra bụi tre sau nhà. Một vệt sáng mỏng như sợi chỉ, rọi xiên xuống nền đất. Tôi nhìn thấy rõ hơn.
Người ấy vẫn ngồi chỗ cũ, góc trong cùng. Vẫn bó gối, vẫn cúi đầu. Tay phải vẫn áp vào ngực, các ngón xoè ra như đang giữ một cái gì cho khỏi rơi. Ngực áo chỗ ấy sẫm màu hơn, cứng lại như vải bị hồ. Đôi chân quấn xà cạp chàm đã bạc, đầu xà cạp bên trái tuột ra một đoạn, buông xuống nền đất.
Vệt sáng từ lỗ thông hơi rọi tới cách chân người ấy một gang tay thì hết. Tôi không biết tại sao, nhưng nó không bò thêm được nữa.
Thằng Cốm ngồi trong lòng u một lúc thì bò ra. Nó bò về phía góc ấy, tay chống xuống đất, mắt mở to, như đứa trẻ bò về phía người quen. U tôi chộp lấy cổ chân nó, giật lại mạnh đến nỗi nó ngã sấp, mặt úp xuống đất. Nó há miệng định khóc. U bịt miệng nó.
"Chỗ ấy ẩm. Ngồi đây."
U nói mà không nhìn về góc ấy. U nhìn xuống đầu thằng Cốm. Bà nội tôi vẫn lần tràng hạt, môi mấp máy. Tôi ngồi im.
Ngọn đèn dầu lạc lúc ấy đang cháy thẳng. Rồi nó ngả. Ngả hẳn về phía góc trong, lửa kéo dài ra như có ai đang hít vào. Mà dưới hầm không có gió. Lỗ thông hơi ở phía ngược lại.
Tôi nhìn ngọn lửa, rồi nhìn người ấy. Người ấy vẫn cúi đầu. Vết bàn tay trên vách sau vai người ấy hôm nay trông rõ hơn. Năm ngón xoè, bàn tay to, của người lớn.
Tàu bay đi rồi, người làng ra bến đò xem. Một chiếc đò bị trúng, chìm giữa sông, không ai chết. U tôi đếm như lần trước.
"Bà. Con Nhài. Thằng Cốm. Đủ cả."
* * *
Đêm hôm ấy tôi nằm trên phản cạnh bà nội. Thằng Cốm nằm giữa. U tôi nằm ngoài cùng, phía gần gian bếp. Từ hôm đến Ngọc Trì, đêm nào u cũng nằm phía ấy, quay mặt ra cửa bếp, tôi chưa thấy u quay vào trong lần nào.
Gần sáng tôi tỉnh dậy vì một tiếng động nhỏ. Tiếng gỗ kẽo kẹt. Khẽ thôi, như có người đặt chân lên bậc thang tre rồi dừng lại, không lên thêm, cũng không xuống.
Tôi nín thở nghe. Tiếng ấy không lặp lại. Nhưng tôi biết nó phát ra từ đâu. Từ dưới cái bồ trấu.
Tôi quay sang định gọi u. U tôi đang nằm nghiêng, mắt mở trừng trừng nhìn về phía bếp, trong bóng tối. U không ngủ. U cũng đang nghe.