Chương 4: Nấm mộ không tên
Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem
Tôi đóng tấm ván lại thật nhanh, kéo bồ trấu đè lên, tay run đến nỗi trấu đổ ra cả nền bếp. Tôi quét trấu, hốt vào bồ, rồi ngồi bệt xuống cạnh bếp, lưng dựa vào vách, cho tới khi nghe tiếng bà nội gọi.
Cả ngày hôm ấy tôi tự nhủ không có gì lạ. Người ta trốn dưới hầm thì người ta phải nhìn lên miệng hầm, xem ai mở. Tôi mà trốn tôi cũng nhìn. Nhưng tôi cứ nhớ cái vòng kiến bò quanh nắm cơm, và tôi không xuống bếp nữa cho tới chiều.
Chiều ấy u sai tôi mang cái rổ trả bà Đồ Hậu. Bà Đồ ngồi ở hiên, nhai trầu, cái ống nhổ bằng đồng đặt cạnh chân. Bà là vợ ông đồ dạy chữ nho trong làng, ông mất đã lâu, bà ở với con dâu và con Bống. Bà nhận rổ rồi giữ tay tôi lại.
"Ở nhà ấy, xuống hầm có lạnh không cháu?"
Tôi bảo lạnh. Bà Đồ gật gù, nhổ một bãi nước trầu đỏ quạch vào ống nhổ. Rồi bà kéo tôi ngồi xuống chõng, hạ giọng, như người đã nhịn lâu lắm một câu chuyện.
* * *
Bà Đồ kể, hôm ấy là ngày mười bảy tháng Hai. Tàu Tây ghé bến từ sớm, lính Tây với lính Phi lên làng, có một thằng người mình đi trước dẫn đường, đội mũ dạ, đeo kính râm. Cả làng chạy ra bãi ngô. Bà Đồ già, chạy chậm, nấp ở bụi duối đầu ngõ, nhìn thấy hết.
Bọn ấy đi thẳng vào xóm Đình, thẳng vào nhà ông Khóa. Như người đã biết đường. Ông Khóa đứng ở sân, chắp tay, nói gì đó. Một thằng lính lấy báng súng đập ông ngã. Rồi chúng vào bếp.
"Chúng nó không xuống. Chúng nó đứng trên miệng hầm mà bắn xuống. Một băng. Bà nghe rõ như nghe pháo. Rồi chúng nó ra sân, bắn ông Khóa nữa, rồi đi."
Tôi ngồi im. Tay bà Đồ vẫn nắm cổ tay tôi, lạnh và khô như vỏ cau.
"Dưới hầm có một anh vệ quốc. Về làm gì với ông Mão ấy, bà không biết. Bà mới thấy mặt được dăm lần. Người làng chui xuống kéo lên thì... thôi. Chết ngồi, cháu ạ. Mắt cứ mở."
"Anh ấy tên là gì hả bà?"
Bà Đồ lắc đầu. Bà bảo không ai biết. Người vệ quốc đi đâu cũng giấu tên, giấu quê, để lỡ bị bắt thì không liên lụy ai. Đồ đạc của anh ấy ông Mão cất. Người làng chôn anh ấy ở gò Đống Cao, cạnh mộ ông Khóa. Mộ không bia, chỉ cắm một cái que tre.
Tôi hỏi thế thằng dẫn đường là ai. Bà Đồ buông tay tôi ra, nhìn ra ngõ một lúc lâu.
"Không phải người làng. Thôi, về đi. Đừng bảo u là bà kể. U mày biết cả rồi."
Tôi đứng dậy. Đi được mấy bước thì tôi quay lại hỏi, sao bà biết u cháu biết rồi. Bà Đồ đã quay vào nhà.
* * *
Tôi không về nhà ngay. Tôi đi ra gò Đống Cao.
Gò ở giữa cánh đồng chiêm, cao hơn mặt ruộng chừng một đầu người, trên mọc mấy bụi dứa dại với một cây gạo già. Mộ làng Ngọc Trì nằm rải rác trên gò, có cái xây gạch, có cái chỉ là ụ đất. Tôi tìm thấy mộ ông Khóa dễ dàng, vì đất còn mới và có cắm một tấm ván gỗ viết chữ nho bằng mực tàu.
Bên cạnh là một ụ đất thấp hơn. Cỏ gà đã mọc lún phún. Không bia, không ván, chỉ có một cái que tre cắm ở đầu, đã ngả màu.
Trên đầu que tre có buộc một mảnh vải. Một đoạn vải chàm, dài chừng gang tay, bạc gần trắng, mép sổ chỉ. Nó bị buộc thắt nút, đầu vải bay phơ phất trong gió đồng.
Tôi đứng nhìn mảnh vải. Tôi đã thấy màu chàm ấy. Tôi đã thấy cái mép sổ chỉ ấy, buông xuống nền đất, ở đầu xà cạp bên trái.
Tôi lùi lại một bước. Gót chân tôi chạm vào một cái gì mềm.
Dưới chân ụ đất, sát cái que tre, có một nắm cơm gói lá chuối. Lá chuối đã héo, nhưng còn nguyên nếp gói. Nếp gói của tôi, gấp chéo hai góc rồi gài vào nhau, cách u dạy tôi từ hồi còn ở phố Hàng Thao.
Nắm cơm tôi để dưới hầm.
* * *
Tôi chạy về nhà, không nhớ mình chạy đường nào. Về đến cổng thì trời đã nhá nhem. Bà nội tôi đang ngồi ở hiên, cái gậy gác ngang đùi, nhìn ra ngõ như đang đợi tôi.
Tôi định hỏi bà. Tôi định hỏi có phải bà mang nắm cơm ra gò không. Nhưng khi tôi đứng trước mặt bà, tôi thấy ống quần bà có dính mấy cái hoa cỏ may, loại chỉ mọc ngoài đồng chiêm, không mọc trong xóm.
Bà nhìn tôi. Bà cũng thấy tôi có hoa cỏ may ở ống quần.
Không ai nói gì. Bà chống gậy đứng dậy, ra bếp thắp hương như mọi tối. Lần này bà khấn lâu hơn. Tôi đứng ở cửa bếp, nghe rõ một câu, câu mà tối nào trước đó bà cũng chưa từng nói.
"Con ơi, ăn đi rồi đi đi. Ở đây lạnh lắm."