Chương 5: Người làng Bàu Sen
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Hôm sau là chủ nhật, đội nghỉ. Tôi đi tìm bà Thỉ.
Bà Thỉ năm ấy tám mươi mốt tuổi, là người già nhất thôn Bàu Sen, nhà ở cuối thôn, sát mép trảng, vườn trồng toàn dứa dại và một cây mít già. Trước năm bảy hai cả thôn bị dồn vào ấp, chỉ bà Thỉ và mấy nhà nữa trốn về bám đất. Sau giải phóng bà về lại chỗ cũ, dựng nhà trên nền cũ. Người thôn nói bà biết từng hố pháo ở trảng.
Bà ngồi trên chõng tre nhai trầu, nghe tôi hỏi về trảng, không trả lời ngay. Bà nhìn tôi lâu, mắt đục nhưng nhìn thẳng.
"Chú ở Đội Bốn phải không. Chú là người chỉ bom."
Tôi nói dạ. Bà nhổ trầu vào cái ống bơ, nói:
"Tôi tưởng chú thấy rồi mới chỉ được. Hay chú chỉ giỏi?"
Tôi không trả lời. Bà cười không ra tiếng, răng đen.
* * *
Bà Thỉ kể, sau trận tháng Ba năm bảy hai, trảng Bàu Sen có nhiều người nằm lại. Cả hai bên. Người thôn về năm bảy ba, bảy tư, đi quanh rìa trảng nhặt được gì thì chôn đó, cắm cọc. Năm bảy lăm, bảy sáu, có đội quy tập của huyện về, đi khắp trảng ba tuần, đưa đi hơn hai mươi bộ hài cốt. Nhưng khoảng giữa trảng, quanh gốc dương cụt, thì đội quy tập không vào. Bà nói, hồi đó máy dò không có, người ta thuốn bằng que sắt, thuốn tới gốc dương thì gặp bom bi dày quá, hai người suýt chết, nên thôi.
"Từ đó không ai vô giữa trảng nữa. Trâu bò cũng không. Trâu khôn hơn người."
Tôi hỏi bà có thấy gì ở trảng không. Bà nhai trầu một lúc.
"Chú hỏi chú bộ đội đứng chỉ tay phải không."
Tôi im. Bà nói, cả thôn ai cũng biết, nhưng không ai nói. Nói ra thì phải làm gì đó, mà làm gì thì không ai biết.
Từ sau bảy lăm, thỉnh thoảng có người thấy. Đàn bà đi cắt lá dương về đun, trẻ con thả diều, người lạ đi tắt qua trảng. Thấy một chú bộ đội đứng giữa trảng, cúi đầu, một tay chỉ xuống, một tay ôm bụng. Đến gần thì không thấy nữa. Ai cũng tưởng mắt mình.
"Chú chỉ chỗ nào thì chỗ đó có bom. Người lớn nhìn là biết, không dẫm. Trẻ con thì khác."
Năm 1986, thằng Cu Tí con ông Bốn thả diều, diều rơi vào trảng. Nó chạy vào nhặt. Người lớn ngoài rìa la lên, có chú bộ đội đứng chỉ ngay chỗ cái diều, đừng vào. Thằng nhỏ không thấy chú nào, nó chỉ thấy cái diều. Bom bi quả ổi. Mất bàn chân phải. Giờ nó bốn mươi, chạy xe ôm ở chợ huyện, bà nói, chân gỗ.
"Chú ấy chỉ cho mà không nghe. Người ta chỉ cho mình mà mình không thấy thì cũng như không chỉ."
* * *
Tôi hỏi câu cuối. Tôi hỏi chú bộ đội ấy hay đứng chỗ nào nhất.
Bà Thỉ không cần nghĩ.
"Chỗ giữa. Phía bắc gốc dương một quãng, về hướng cái hào cũ. Chỗ không ai dám tới. Mấy chục năm nay chú ấy đứng đó. Đứng như chờ ai tới đón."
Tôi cảm ơn bà, đứng dậy. Ra tới cổng bà gọi giật.
"Chú Thiện. Chú là lính năm bảy hai ở đây phải không."
Tôi không quay lại. Tôi nói dạ. Bà nói, nhỏ, nhưng tôi nghe rõ bằng tai phải:
"Vậy thì chú biết chú ấy chờ ai rồi."
* * *
Chiều thứ hai tôi xin Quân nghỉ nửa buổi, đạp xe lên huyện đội. Tôi nói với anh ở ban chính sách là tôi muốn tra danh sách liệt sĩ và người mất tích của đơn vị cũ trong trận tháng Ba năm bảy hai ở khu vực này. Anh ấy là một đại uý trẻ tên Dũng, hỏi tôi quan hệ gì. Tôi nói đồng đội.
Dũng lật một cuốn sổ bìa cứng, giấy ố vàng, chữ viết tay. Trận ấy, đơn vị tôi ghi mười một hy sinh, bảy mất tích ở khu vực Bàu Sen. Dũng đọc tên. Đến tên Trần Văn Phú, quê Thái Bình, sinh 1953, nhập ngũ 1971, Dũng dừng lại.
"Chú này không ghi mất tích. Ghi hy sinh tại chỗ, không lấy được thi hài do pháo. Có xác nhận của người chứng kiến."
Tôi hỏi ai xác nhận. Dũng dò ngón tay theo dòng chữ.
"Hạ sĩ Lê Văn Thiện. Cùng tiểu đội."
Tôi nhớ tờ giấy ấy. Tôi viết nó sáng ba mươi tháng Ba năm 1972, trong hào, tay còn run, với một bàn chân quấn băng. Tôi viết là tôi thấy Phú trúng pháo chết ngay, không kịp nói gì. Tôi viết vậy để không ai hỏi tôi thêm. Tôi viết vậy để người ta không bắt tôi bò ra lại.
Và vì tờ giấy ấy ghi hy sinh tại chỗ, người ta không ghi Phú vào danh sách tìm kiếm. Ba mươi mốt năm nay, không ai đi tìm Phú. Vì người ta tin lời tôi.
Dũng ngẩng lên, nhìn tên trên tờ giấy giới thiệu của xã tôi đưa, rồi nhìn mặt tôi.
"Chú là..."
Tôi nói, đúng. Tôi là người ký tờ giấy đó.
Dũng gấp cuốn sổ lại. Dũng không nói gì về chuyện ấy nữa, chỉ hỏi tôi có cần sao lại trang sổ không. Tôi nói không. Tôi nhớ từng chữ rồi.
Tôi đạp xe về trong nắng chiều, qua trảng. Từ đường cái nhìn vào, bốn cái cọc tre nhỏ như que tăm. Ông ấy đứng trong đó, quay lưng ra đường, mặt hướng về gốc dương. Hướng Phú đã nằm. Hướng ngược với hướng hào.
Lần đầu tiên tôi nghĩ: ông ấy không đứng chờ. Ông ấy đứng ở chỗ ông ấy đã dừng lại.