☾ Truyện Ma Có Thật
← Hồn về hút thuốc lào

Chương 10: Điếu cày trên bàn thờ

Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem

Tôi lên đến nhà ông Khăm lúc trời đã tối. U ngồi ở đầu cầu thang, ôm bọc vải đỏ, chỉ hỏi thuê được xe chưa. Tôi bảo được rồi. Chú Thản hỏi sao đi lâu thế. Tôi bảo xe hỏng giữa đèo.

Đấy là lời nói dối thứ nhất. Từ hôm ấy đến giờ tôi không còn đếm nữa.

Sáng hôm sau chị Hoa đạp xe lên, ôm một cái bọc bao tải. Chị bảo mở quán đã thấy nó trên bàn, không biết ai mang đến. Chị kéo tôi ra sau nhà sàn mới mở.

Một cái hộp sắt đựng bánh quy, nắp rỉ, góc nắp có một vệt sơn đỏ.

"Hộp tiền lán trong cùng đây," chị nói, giọng run. "Cả lán giao anh Lộc giữ. Anh Lộc không uống rượu, chỉ có hút."

Trong hộp, tiền gói ni lông từng xấp, buộc dây chun, ố vàng mà không thiếu xấp nào. Một tờ giấy ghi tám cái tên, cạnh mỗi tên một con số. Dưới đáy là tờ giấy kẻ ô học trò gấp tư. Chữ to, nghiêng, đuôi chữ "c" quặp lại.

Tôi đọc nó trên xe khách, quay mặt vào cửa kính.

* * *

"Toản. Đêm ấy tao say. Công trình nghỉ, chủ thầu trốn, tao đòi lấy tiền trong hộp về quê. Nó không cho, bảo tiền anh em. Nó quay lưng đi xuống suối. Tao cầm cái xẻng.

Tao không định thế. Mày biết cái lúc mắt tao tối lại.

Tao lên bản mượn cái cuốc, bọc nó vào tấm bạt lán, chôn giữa cây me với tảng đá. Cái điếu tao để lên ngực nó, nó không rời được cái ấy. Tao lấy sơn đỏ đánh mốc đường quét lên đá để còn tìm lại.

Tao cầm hộp tiền với giấy tờ của nó đi. Thằng Tuấn ôm tiền trốn thì chẳng ai đi tìm xác thằng Tuấn. Lá thư cuối tao viết từ trước. Đêm ấy mới viết thêm một dòng.

Tết nào tao cũng lên ngồi với nó. Tháng Bảy vừa rồi vợ tao đẻ. Tao đi làm giấy cho con, cha tên Lộc. Từ hôm ấy nó không ngồi gốc me nữa. Nó ngồi ở hiên nhà tao.

Hôm mày đến, tay tao đang cầm cờ lê. Nó đứng sau lưng tao, ấn tay tao xuống.

Tiền này của anh em. Tao không tiêu đồng nào. Đừng để u biết."

Tôi gấp tờ giấy lại. Tháng Bảy con anh ra đời. Tháng Tám, dưới bếp nhà tôi bắt đầu có tiếng rít.

Tôi nhớ câu ông Thục nói. Mình gọi cái tên. Ai đang ở quanh cái tên ấy thì người ấy về. Anh Lộc không còn tên mình nữa. Anh tìm về chỗ còn có người gọi cái tên kia mỗi tối, chỗ có cái bát úp sấp chờ, chỗ anh đã nghe kể suốt ba năm nằm lán.

Còn câu u dặn ở cửa khẩu, đừng để thằng Toản đi đâu một mình, giờ tôi biết là ai dặn, và dặn vì cái gì.

* * *

Mang hài cốt qua cửa khẩu mất ba ngày, xin bốn thứ giấy. Về đến thôn, người ta đặt bọc vải đỏ vào tiểu sành, quàn ở gian giữa một đêm, sáng hôm sau đưa ra nghĩa địa ven đê. Cả nhà ông trưởng thôn cũng đến. Con trai ông, người khâu mười hai mũi năm xưa, đứng thắp hương rất lâu.

Tấm bia xi măng khắc chữ đỏ. Vũ Văn Tuấn. Sinh năm 1975. Mất năm 2001 tại nước bạn Lào.

Tám cái tên trong hộp, tôi đi tìm từng nhà, mất gần một năm. Nhà nào tôi cũng bảo chủ thầu trả nợ lương.

Qua bốn mươi chín ngày, tôi chạy chiếc Win xuống Hải Hậu. Nhà mẹ anh Lộc ở cuối một xóm đạo sát chân đê, ba gian nhà lá, một cây cau già. Bà cụ lưng còng, mắt mờ đục, níu tay áo tôi hỏi thằng Lộc bên ấy có khoẻ không. Bàn thờ chỉ có ảnh ông cụ. Ở đây anh ấy chưa chết.

"Anh Lộc khoẻ, bà ạ. Anh ấy gửi bà cái này."

Tôi đặt ống điếu tre vào tay bà. Bà sờ từ nõ xuống đáy ống, đưa lên mũi ngửi, rồi cười móm mém.

"Đúng điếu thằng Lộc rồi. Nó bỏ thuốc rồi à. Thế thì tốt."

* * *

Bốn năm sau, chị Hoa gọi điện về. Mùa mưa năm ấy, người bản thấy anh Lộc sửa xe ngồi chết dưới gốc me, lưng dựa tảng đá, đầu nghiêng hẳn sang một bên. Cái điếu tre mới nằm trong lòng. Không ai đánh. Anh ngồi ngấm mưa cả đêm. Vợ anh chôn anh ngay chỗ cái hố cũ, theo tục bản, không đưa đi đâu.

Tháng ấy bà cụ ở Hải Hậu không nhận được tiền. Từ tháng sau, tôi gửi. Năm trăm nghìn, ký tên Lộc. Tôi gửi đến khi bà mất.

* * *

Mười mấy năm đã qua. U tôi đi phải chống gậy. Tôi lấy vợ, có hai đứa con. Ruộng muối giờ thành đầm tôm.

Trên bàn thờ gian giữa, cạnh ảnh thầy tôi là ảnh anh Tuấn năm hai mươi tuổi, cười chìa cái răng cửa sứt. Cạnh ảnh là cái điếu cày của thầy. Sáng nào u cũng thay nước điếu, nhồi sẵn một mồi thuốc.

Tiếng rít vẫn về. Ngọn đèn thờ chao đi trước, mùi thuốc dâng lên sau, rồi mới đến tiếng sòng sọc. Lũ trẻ nhà tôi bảo bác Tuấn về hút thuốc. Tôi không bao giờ đứng trước bàn thờ quá lâu.

Đêm qua tôi dậy uống nước. U ngồi trên chõng tre trước bàn thờ, hai tay đỡ cái điếu, chìa sang cái ghế đẩu trống bên cạnh.

Sòng sọc. Sòng sọc.

U không quay lại. U nói, giọng bình thản.

"Anh mày ghét mùi thuốc lắm, mày nhớ không."

Tôi không trả lời được.

"U biết từ hôm ở nhà ông Thục," u nói. "Nhưng nó gọi u là u."

Có tiếng thở ra, phù, sát má u. U đặt điếu lại lên bàn thờ, lấy vạt áo lau ống nứa, chậm rãi như lau mặt cho ai.

Trên mặt cái ghế đẩu có một vệt đất đỏ. Ướt, dẻo, còn hơi ấm. Không phải một vệt. Hai vệt, sát nhau, như hai người ngồi chung một ghế.

Sáng nay tôi lau chúng đi trước khi lũ trẻ dậy. Rồi tôi thay nước điếu, nhồi một mồi thuốc mới, như u vẫn làm. U yếu quá rồi. Từ hôm nay việc ấy là việc của tôi.