Chương 5: Qua Cầu Treo
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Muốn sang Lào đào mộ thì phải có người biết đường, có giấy tờ, có tiền. Nhà tôi không có thứ nào.
Người biết đường là chú Thản, em ruột thầy tôi. Hồi những năm tám mươi chú đi lái xe chở gỗ bên Lào ba năm, còn nói được dăm câu tiếng Lào, uống rượu xong hay hát. Nghe u kể, chú ngồi im một lúc lâu, rít hết hai mồi thuốc, rồi bảo đi thì đi, chứ để chị đi một mình thì chết.
Giấy tờ thì tôi lên tỉnh xin giấy thông hành, chạy đi chạy lại ba lần, mất hai tuần. Tiền thì u bán hết số muối dự trữ trong kho, vay thêm hai nhà họ hàng, cầm cái nhẫn cưới ở hiệu vàng chợ huyện. Tất cả được bốn triệu tám, u gói trong khăn mùi xoa, khâu vào lần áo lót.
Trong hai tuần ấy, đêm nào tiếng điếu cũng về. Không còn cách vài hôm nữa. Đêm nào cũng có. U không cất điếu lên gác bếp nữa. U để nó dựng ở chân cột hiên, cạnh cái ghế đẩu, sáng ra thay nước điếu như thay nước bát hương.
* * *
Hôm đi, tôi thấy u nhét cái điếu cày của thầy vào túi cói, quấn trong cái áo bảo hộ. Tôi hỏi mang theo làm gì. U bảo:
"Bên ấy nó không có cái mà hút."
Chúng tôi đi xe khách từ bến huyện vào Vinh, ngồi hàng ghế cuối, xe nồng mùi dầu và mùi cá khô của người đi buôn. Từ Vinh bắt xe lên Hương Sơn, rồi thuê xe ôm lên cửa khẩu. Đường lên càng lúc càng dốc, mây sà xuống ngang đầu, hai bên là rừng keo rồi rừng già, lạnh hẳn đi dù mới đầu tháng Mười.
U ngồi xe ôm, một tay bám yên, một tay ôm khư khư túi cói vào ngực.
Ngồi trên xe khách, tôi cứ nghĩ đến hai chữ trong buồng ông Thục. Chữ "nó" giữa câu kể. Và chữ "Hải" cuối cùng, nói vào tai tôi.
Tôi nghĩ đến Hải Phòng, nhà mình không có ai ở đấy. Rồi tôi nhớ ra cái tên anh Bính nói: thằng Lộc, người Hải Hậu, nằm cạnh anh Tuấn. Tôi thở ra. Chắc là thế. Anh muốn tôi về báo tin cho nhà bạn anh. Người chết cũng có nợ với người sống. Tôi tự bảo mình như vậy, và thấy nhẹ đi được một chút.
Nhưng chữ "nó" thì tôi chưa giải thích được cho mình.
* * *
Đến cửa khẩu thì trời tối, trạm đã đóng. Chúng tôi ngủ ở một nhà trọ ván gỗ sát đường, phòng có hai cái giường tre, một bóng đèn tuýp nhấp nháy. Mưa rừng đổ xuống mái tôn như ai đổ sỏi. Chú Thản uống mấy chén rượu với ông chủ trọ rồi sang phòng bên ngủ, ngáy vang qua vách.
Tôi nằm giường trong, u nằm giường ngoài, cạnh cửa. Lạnh. Tôi đắp cả cái chăn chiên của nhà trọ vẫn thấy hơi lạnh luồn lên từ khe ván sàn.
Tôi không biết mình ngủ được bao lâu. Tôi tỉnh vì mưa tạnh. Tạnh đột ngột, cả rừng im phắc, không còn cả tiếng nước nhỏ giọt từ mái. Tôi nằm nghe cái im ấy, và biết nó sắp đến.
Sòng sọc.
Không phải ngoài hiên. Không phải dưới bếp. Ở ngay trong phòng.
Tôi quay đầu sang. Bóng đèn tuýp ngoài hành lang hắt vào qua khe cửa một vệt sáng xanh nhợt. Trong vệt sáng ấy tôi thấy u tôi ngồi dậy trên giường, lưng quay về phía tôi. Hai tay u cầm cái điếu cày của thầy, không đặt xuống đất, mà chìa ra phía trước, ngang ngực, nghiêng nghiêng.
Như người ta đưa điếu cho khách.
Cạnh u, ở mép giường bên kia, cái đệm cói lún xuống một vệt. Không có ai ngồi đấy. Chỉ có vệt lún, sâu dần, như có người vừa hạ mình ngồi xuống, nặng nề, mệt mỏi.
Sòng sọc. Sòng sọc. Nước trong ống điếu reo lên giữa hai bàn tay u. Rồi tiếng thở phù, sát bên má u. Mùi thuốc lào tràn khắp gian phòng ẩm.
Tôi không cử động được. Tôi nằm nghiêng nhìn, chăn trùm đến cằm, tim đập vào mặt gối. U tôi ngồi im, cầm điếu cho đến khi tiếng rít dứt hẳn. Rồi u hạ cái điếu xuống, nói vào khoảng trống bên cạnh, giọng dịu dàng như ru.
"Ừ. U biết rồi. Ngủ đi."
Vệt lún trên đệm từ từ đầy lại.
* * *
Sáng ra tôi không hỏi. U cũng không nói gì, ra hiên rửa mặt, cuộn chăn, xếp đồ vào túi cói như mọi buổi sáng.
Trên tấm đệm cói giường u, chỗ vệt lún đêm qua, có một vết đất đỏ. Nhỏ, hình nửa vầng trăng, như đất bám dưới gót chân ai.
Tôi lấy tay áo quệt đi trước khi chú Thản vào giục.
Lúc ba người đứng xếp hàng trước trạm, chờ người ta đóng dấu vào giấy thông hành, u kéo tay áo tôi. U không nhìn tôi, mắt vẫn nhìn về phía bên kia, nơi con đường nhựa đổ dốc xuống một thung lũng còn ngập sương.
"Đêm qua nó dặn u," u nói khẽ. "Sang đến nơi thì đừng để thằng Toản đi đâu một mình."