Chương 1: Cuộc gọi từ phòng trống
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Năm 2019 tôi hai mươi sáu tuổi, làm lễ tân ca đêm ở khách sạn Hải Lam, trong một con hẻm thông ra đường Trần Quang Khải, Nha Trang. Khách sạn nhỏ, mười tám phòng, đi bộ ra biển chừng năm phút. Phía trước là một căn biệt thự cũ hai tầng, tường vàng, cửa sổ chớp xanh, người ta sửa lại giữ nguyên dáng. Phía sau xây thêm một khối năm tầng nối vào bằng hành lang kính. Khách Tây thích ở phần nhà cũ, nói nó có hồn.
Tôi quê Ninh Hòa, học trung cấp du lịch, làm buồng phòng hai năm rồi được lên quầy. Ca của tôi từ mười giờ tối tới sáu giờ sáng. Quầy lễ tân đặt ngay sảnh của biệt thự cũ, sau lưng là cầu thang gỗ lên lầu, tay vịn lên nước đen bóng, bậc nào bước lên cũng kêu một tiếng khác nhau. Trên quầy có máy tính, sổ giao ca, cái bàn tổng đài điện thoại màu kem với hai hàng đèn nhỏ, mỗi đèn một số phòng. Phòng nào nhấc máy gọi xuống thì đèn phòng đó sáng, màn hình hiện số.
Ca đêm có tôi với chú Tâm bảo vệ. Chú sáu mươi, người Diên Phú, ngồi ghế nhựa ngoài cổng, đêm nào cũng nghe radio cải lương nhỏ xíu. Đêm ở Hải Lam yên. Khách đi phố về trước mười hai giờ, sau đó chỉ có tiếng máy lạnh ở khối sau, tiếng sóng ngoài biển vọng vào từng đợt, và tiếng tắc kè trên trần sảnh.
Đầu tháng Mười năm đó, phòng 204 đóng để sơn lại. Phòng 204 nằm trên lầu biệt thự, cửa sổ nhìn xuống cổng, qua mấy mái nhà thấy được một khoanh biển. Thợ sơn xong từ chiều thứ Hai. Chị Loan buồng phòng đã khóa cửa, giao chìa khóa cho tôi treo vào bảng. Phòng không có khách.
Khuya hôm đó, tôi đang cộng sổ thì con tắc kè trên trần thôi kêu. Tôi để ý vì nó vừa kêu được bốn tiếng, còn dở. Cả sảnh im. Rồi bàn tổng đài reo, và cái đèn thứ tư hàng trên sáng lên. Màn hình hiện 204.
Tôi nhìn bảng chìa khóa. Chìa 204 vẫn treo đó, cái thẻ gỗ khắc số còn đung đưa nhẹ, dù sảnh không có gió.
Tôi nhấc máy, nói câu quen miệng: "Dạ, lễ tân xin nghe."
Đầu dây im một lúc. Có tiếng thở, chậm, kéo dài, như người già leo cầu thang lên tới nơi. Rồi một giọng đàn bà vang lên, khàn, nhỏ, giọng Nha Trang xưa, chữ cuối kéo hơi xuống:
"Cô... cô đã thấy cái hộp thiếc chưa?"
Tôi nghĩ là khách phòng khác bấm nhầm số, hoặc thợ sơn còn ai ở lại. Tôi hỏi bác ở phòng nào, bác cần gì con lên giúp. Giọng ấy không trả lời câu tôi hỏi. Nó lặp lại, chậm hơn, như người nói với đứa nhỏ khó nghe:
"Cái hộp thiếc. Cô đã thấy chưa?"
Rồi máy cúp. Đèn 204 tắt.
Tôi ra cổng gọi chú Tâm. Chú tắt radio, cầm đèn pin đi trước. Lên cầu thang, bậc thứ bảy kêu to hơn mọi khi, một tiếng rít dài như ai kéo ghế. Chú Tâm dừng lại, chiếu đèn xuống chân, rồi nói nhỏ: "Gỗ cũ đó con, trời ẩm là dị."
Cửa 204 khóa. Tôi mở bằng chìa trên bảng. Mùi sơn mới còn nồng. Nhưng lẫn trong mùi sơn có một mùi khác, cay và ấm, xộc lên mũi. Mùi dầu cù là. Thứ dầu sáp đựng hộp thiếc tròn bằng đồng xu, bà ngoại tôi hồi trước xức lên thái dương mỗi lần trở trời.
Giường đã trải ga trắng, phẳng, không có vết ngồi. Bàn trang điểm trống. Cái điện thoại bàn màu kem đặt trên tủ đầu giường, ống nghe nằm ngay ngắn trên giá. Tôi đặt tay lên ống nghe. Nhựa lạnh, như mọi đồ vật khác trong phòng có máy lạnh.
Cửa sổ thì mở.
Hai cánh chớp xanh mở toang vào trong, móc cài buông thõng. Gió biển thổi vào làm tấm rèm voan phồng lên. Tôi nhớ rõ chiều đó chị Loan khóa cửa sổ, vì chị dặn tôi phòng mới sơn để kín cho mau khô thì sơn bị mốc. Tôi bước tới định đóng. Bậu cửa sổ bằng đá mài, trên mặt đá đọng một lớp nước, lấm tấm như mồ hôi trên trán người sốt.
Ngoài trời không mưa. Trăng còn sáng trên mấy mái tôn.
Tôi quẹt ngón tay vào vệt nước, đưa lên mũi theo thói quen. Không có mùi gì. Tôi chạm đầu lưỡi. Mặn. Mặn chát như nước biển vục lên bằng tay.
Chú Tâm đứng ở cửa phòng, không bước vào. Chú nói đóng cửa sổ lại rồi xuống, mai báo chị Loan. Giọng chú bình thường, nhưng tay chú cầm đèn pin chiếu thẳng xuống sàn, không chiếu đi đâu khác.
Tôi đóng hai cánh chớp, gài móc, kéo rèm. Tôi kiểm tra lại móc gài hai lần. Lúc tôi quay ra cửa phòng thì dưới sảnh, cái bàn tổng đài reo.
Tiếng chuông vọng lên cầu thang, rõ mồn một trong đêm vắng. Một hồi. Hai hồi.
Tôi đứng sát cái điện thoại của phòng 204. Ống nghe vẫn nằm im trên giá. Không đèn, không tiếng. Chú Tâm nhìn tôi. Tôi nhìn cái điện thoại.
Tôi chạy xuống. Bậc thứ bảy lại rít lên dưới chân tôi. Khi tôi tới quầy thì chuông đã dứt, nhưng màn hình còn lưu cuộc gọi nhỡ cuối cùng, kèm giờ phút. Phòng gọi là 204. Giờ gọi là lúc tôi đang đứng trong phòng ấy, tay đặt trên ống nghe.
Tôi ngồi xuống ghế, kéo sổ giao ca lại gần, định ghi. Viết được chữ "phòng 204" thì tôi ngửi thấy mùi dầu cù là, ngay sau lưng mình, chỗ chân cầu thang, ấm như có ai vừa đi ngang.