☾ Truyện Ma Có Thật
← Phòng gọi xuống lễ tân

Chương 2: Cánh cổng nhà cũ

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Sáng ra tôi giao ca cho chị Loan. Tôi kể chuyện cuộc gọi, chuyện cửa sổ. Chị đang gấp khăn, tay chậm lại, rồi gấp tiếp.

"Lại 204 hả em. Chị tưởng sơn lại rồi thì thôi chớ."

Tôi hỏi lại là sao. Chị Loan làm ở Hải Lam từ ngày khai trương, năm 2016. Chị nói phòng 204 thỉnh thoảng có khách phàn nàn. Một ông khách Hà Nội trả phòng lúc nửa đêm vì nằm nghe như có người ngồi ở mép giường, nệm lún xuống một bên. Một cặp vợ chồng người Nga nói cửa sổ cứ tự mở, sáng ra thảm ướt. Chị nói nhỏ, mắt liếc lên lầu:

"Nhà này hồi xưa của nhà giàu. Chủ cũ chết trong nhà thì sao. Người ta nói bà chủ cũ không chịu đi, còn đi tới đi lui coi nhà."

Chị kể thêm, bà Thục chủ khách sạn mua căn này năm 2015 từ một công ty. Công ty mua lại của nhà nước. Trước nữa là của một gia đình họ Võ, sau năm bảy lăm thì không ai biết đi đâu. Chị không biết ai chết, chết năm nào. Chị chỉ biết mỗi rằm, bà Thục bắt cúng một mâm nhỏ dưới chân cầu thang, có bánh ít, có chén chè, và không ai được dời cái cầu thang gỗ ấy, kể cả lúc sửa nhà.

Trưa hôm đó tôi về phòng trọ ngủ không được. Hai giờ chiều tôi quay lại khách sạn lấy cái áo khoác bỏ quên, gặp bà Thục ngồi ở bàn sảnh uống trà.

Bà Thục năm đó năm mươi lăm, người nhỏ, tóc cắt ngắn ngang gáy, nói chuyện nhanh và gọn, kiểu người buôn bán. Bà cũng quê Ninh Hòa như tôi, nên hồi tôi xin việc bà nhận liền. Bà gọi tôi lại, rót cho tôi một chén trà, hỏi chuyện đêm qua. Chị Loan đã kể.

Tôi kể lại. Bà nghe, không ngắt lời. Kể tới đoạn cửa sổ thì bà đặt chén xuống.

"Đóng cửa sổ, gài móc, mà nó vẫn mở?"

Tôi nói dạ. Bà im một lúc, ngó ra cổng. Cánh cổng sắt sơn xanh, hai trụ gạch, trên trụ có hai cái chậu sứ cũ trồng hoa giấy.

"Cô nói cô nghe, hồi nhỏ cô ở Ninh Hòa," bà nói. "Má cô hồi con gái đi ở cho nhà này. Năm nào gần Tết má cũng dắt cô xuống Nha Trang, đứng ngoài cái cổng đó. Hổng vô. Chỉ đứng ngó vô chừng một chút rồi đi. Cô hỏi đứng chi, má nói coi nhà cũ cho đỡ nhớ."

Bà cười, ngón tay xoay xoay cái chén.

"Có năm cô ngó lên, thấy có người đứng trên cửa sổ lầu, ngay phòng 204 bây giờ, ngó xuống. Một bà mặc áo dài trắng. Cô vẫy tay. Má cô kéo tay cô xuống, nói đừng ngó người ta, kỳ. Mấy chục năm sau công ty rao bán, cô mua liền, hổng cần trả giá. Chắc tại cái cửa sổ đó."

Rồi bà dặn tôi đừng kể với khách, đừng đăng lên mạng. Bà nói nếu đêm nay 204 còn gọi thì cứ nghe, hỏi coi người ta cần chi, nói năng cho đàng hoàng. Rồi bà đứng dậy, đi ngang chân cầu thang, tay đặt lên trụ vịn một cái như người ta vỗ vai người quen.

Đêm thứ hai, tôi để sẵn cây đèn pin cạnh bàn phím. Chú Tâm không nghe radio. Chú ngồi trong sảnh, ngay cửa ra vào, hai tay đút túi áo khoác.

Khuya, đèn tuýp trên trần sảnh chớp hai cái. Không tắt, chỉ chớp, rồi kêu rè rè. Tắc kè im. Tôi ngửi thấy dầu cù là trước khi chuông reo.

Đèn 204 sáng. Tôi để chuông reo ba hồi mới nhấc.

"Dạ, lễ tân nghe."

Tiếng thở chậm. Lần này sau tiếng thở có một thứ âm thanh khác, rất nhỏ, đều đều, như ai thổi ống hút vào ly nước, lục bục, lục bục. Tôi nghĩ là tiếng sóng.

"Cô đã thấy cái hộp thiếc chưa?"

Câu y như đêm trước. Tôi nắm chặt ống nghe, nhớ lời bà Thục, nói chậm:

"Dạ con chưa thấy. Hộp thiếc ra sao bà, bà tả con nghe, con kiếm cho."

Đầu dây im lâu. Tôi tưởng máy đã cúp. Rồi giọng ấy trả lời, lần đầu tiên trả lời đúng câu tôi hỏi, giọng run như người lâu lắm không nói chuyện với ai:

"Hộp màu xanh... xanh lá chuối. Nắp có vẽ chiếc ghe buồm. Lớn chừng cái gang tay. Tui cất kỹ lắm, giờ tui kiếm hoài hông ra."

Tôi hỏi bà cất ở đâu. Giọng ấy không nghe tôi nữa. Nó nói tiếp, như đang nói với người khác trong phòng:

"Huệ, con nhỏ có còn đứng ngoài cổng hông? Mở cửa sổ ra cho tui coi."

Rồi máy cúp. Tôi ngồi im, tay còn giữ ống nghe. Tiếng tút tút kéo dài bên tai.

Chú Tâm đứng dậy. Chú không hỏi gì. Chú đi ra cổng, đứng ngó lên lầu. Tôi ra theo.

Từ ngoài cổng nhìn vào, cửa sổ phòng 204 đang mở. Hai cánh chớp xanh banh ra. Rèm voan bay phất phơ. Trong phòng không bật đèn, nhưng tấm rèm động như có người vừa vén lên rồi buông xuống.

Tôi nhớ mình đã gài móc. Hai lần.

Chú Tâm đứng sát tôi, nói nhỏ, mắt vẫn ngó lên: "Con có thấy hông? Ngay khung cửa đó. Có ai cao cỡ con, đứng nghiêng nghiêng."

Tôi không thấy ai. Tôi chỉ thấy, ngay dưới bậu cửa sổ, trên vách tường vàng, một vệt nước dài chảy xuống tới gờ tường tầng trệt, loang ra như vệt nước mắt trên má người ngủ.