Chương 8: Gầm cầu thang gỗ
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Anh Vĩnh tới lúc sáu giờ sáng, mang theo cái xà beng nhỏ với hộp đinh. Bà Thục không cho cạy mạnh. Anh lấy dao rọc giấy rạch dọc lớp sơn bóng quanh mép bậc thứ bảy, rồi lách mũi xà beng vào khe. Tấm gỗ bậc thang bật lên dễ hơn ai cũng nghĩ. Đinh đã gỉ mục từ lâu, chỉ còn bám bằng lớp sơn người ta quét đè lên khi sửa nhà.
"Hèn chi nó kêu," anh Vĩnh nói. "Tấm này bị cạy ra rồi đóng lại hồi nào rồi, đóng ẩu."
Dưới tấm gỗ là một hốc tối giữa hai thanh dầm, bám đầy bụi và mạng nhện khô. Bà Thục thò tay vào. Bà lấy ra một cái gói bọc trong túi ni lông đục, loại túi đựng áo mưa ngày xưa, miệng túi cột dây thun đã chảy nhựa dính vào nhau.
Bà ngồi xuống bậc thang, đặt cái gói lên đùi, lấy kéo cắt túi ni lông. Bên trong là cái hộp thiếc.
Màu xanh lá chuối, sơn đã tróc nhiều chỗ, gỉ nâu viền quanh mép nắp. Trên nắp còn rõ hình chiếc ghe buồm hai cánh nâu, sóng xanh, một con hải âu trắng. Lớn chừng một gang tay. Hộp kẹo của nhà giàu hồi trước. Bà Thục vặn nắp. Nắp kẹt. Anh Vĩnh lấy mũi dao nạy nhẹ quanh viền, nắp bật ra, và mùi dầu cù là bay lên, cũ, nhạt, nhưng vẫn là mùi ấy.
Trong hộp có hai xấp thư. Một xấp mỏng, giấy học trò kẻ ô, cột bằng sợi chỉ gai, nét chữ con trai to và vụng. Thư anh Kha gửi cô Út Lài, năm sáu mươi ba, sáu mươi tư. Một xấp dày hơn, mười bốn bao thư giấy pơ-luya, mỗi bao ghi một năm, từ 1965 đến 1978, bao nào cũng đề "Gửi con gái của má". Dưới đáy hộp có một cái yếm trẻ con bằng vải phin trắng, góc yếm thêu chữ Thục bằng chỉ xanh, và một hộp dầu cù là nhỏ đã cạn sạch.
Bà Thục mở lá thư năm 1965. Bà đọc thầm. Rồi bà đưa cho tôi, nói tôi đọc lên giùm, bà không đọc thành tiếng được.
Tôi đọc. Lá thư không dài.
"Con của má. Hôm nay con tròn một tuổi. Má không được bồng con.
Má đã hứa với ông ngoại con là không nhận con, đổi lại ông cho Huệ nuôi con, và mỗi năm cho má đứng trên cửa sổ coi con một lần. Đêm Huệ bồng con ra cổng, trời mưa bão, nước biển tạt vô tới cửa sổ lầu. Má mở cửa sổ đứng tới sáng, tay má ướt hết, môi má mặn chát. Má không biết là nước biển hay là gì. Ba con tên Kha. Ba con thương con lắm, dù ba chưa thấy con."
Bà Thục ngồi im trên bậc thứ bảy. Không ai nói gì. Chú Tâm đứng dưới chân cầu thang, quay mặt ra cổng.
Chín giờ sáng, bà Thục đi Diên Khánh. Bà bảo tôi đi theo.
Chị Quyên đứng đợi ở cửa phòng mười hai. Chị nói nhỏ, đêm qua bà Lài yên lắm, không đè chuông lần nào, sáng ra hai bàn tay khô.
Bà Thục ngồi xuống bên giường. Bà nắm lấy bàn tay gầy ấy. Bà nhìn khuôn mặt người đàn bà nằm đó rất lâu, như nhìn một tấm ảnh mình cần học thuộc. Rồi bà mở lá thư cuối, năm 1978, và đọc. Lần này bà đọc thành tiếng, chậm, rõ.
"Con của má. Người ta lấy nhà rồi. Má không mang hộp theo được, má để lại dưới bậc thang thứ bảy, bậc má ngồi suốt đêm Huệ bồng con đi. Năm nay má không được đứng trên cửa sổ nữa. Má không biết con ở đâu. Nếu có ngày con đọc được thư này, con đừng giận Huệ. Huệ thương con hơn má thương con."
Bà Thục đọc tới đó thì ngừng. Bà cúi xuống, áp má vào bàn tay mẹ.
Tôi thấy mí mắt bà Lài động. Chỉ một chút, như người ngủ say nghe ai gọi tên mình rất xa. Một giọt nước chảy ra từ khóe mắt bên trái, chảy xuống thái dương, vào chỗ chị Quyên vừa xức dầu. Ngón tay bà, ngón trỏ, khẽ cong lại, móc vào ngón tay bà Thục.
Máy đo nhịp tim vẫn kêu tít đều. Bà Thục ở lại viện đêm đó. Tôi về khách sạn trực ca.
Đêm ấy biển lặng. Không mưa, không gió. Tắc kè trên trần kêu đủ tiếng. Gần sáng, khi trời ngoài cổng mới xám, đèn tuýp không chớp, cũng không có mùi gì trôi xuống cầu thang. Bàn tổng đài reo, rất khẽ. Đèn 204 sáng.
Tôi nhấc máy. Không có tiếng lục bục. Không có tiếng tít. Chỉ có tiếng gió biển, xa xa, như ai mở cửa sổ một căn phòng sát biển. Rồi giọng ấy, nhẹ, không còn khàn, không còn mệt:
"Cô Diệp hả. Tui gặp nó rồi. Cảm ơn cô nghen. Cô lên đóng cửa sổ giùm tui."
Máy cúp. Tôi lên lầu. Cửa sổ phòng 204 mở, rèm voan buông thẳng, không có gió. Bậu cửa khô ráo. Tôi đóng hai cánh chớp, gài móc. Một lần.
Sáu giờ, chị Quyên gọi. Bà Lài đi lúc trời vừa xám, êm lắm, tay vẫn nắm tay con gái.
Bà Thục đưa mẹ về chôn ở nghĩa trang Xóm Bóng, gần chỗ người ta nói mộ anh Kha nằm, chỉ còn tấm bia xi măng mờ chữ. Bà gỡ phòng 204 khỏi danh sách cho thuê, dọn lên ở. Cái hộp thiếc đặt trên bàn thờ nhỏ cạnh cửa sổ, cạnh tấm ảnh đầy tháng bà xin được từ viện về. Mười bốn lá thư bà đọc hết, mỗi tối một lá. Chú Tâm nghỉ hưu năm sau. Tôi vẫn làm ca đêm ở Hải Lam.
Anh Vĩnh nối lại đường dây 204. Bậc thứ bảy đóng đinh mới, không còn kêu nữa.
Thỉnh thoảng, những đêm trở trời, đèn 204 trên bàn tổng đài sáng lên. Là bà Thục gọi xuống, hỏi tôi đã ăn khuya chưa, có muốn lên uống ly trà không. Lần nào tôi cũng để chuông reo hai hồi mới nhấc. Lần nào trong ống nghe cũng thoang thoảng mùi dầu cù là, thứ dầu bà Thục bây giờ xức mỗi tối, xức lên thái dương, ngay chỗ mẹ bà từng được xức.