Chương 7: Đêm cúp điện
Khoảng 5 phút đọc·7lượt xem
Tôi lên.
Tới giờ tôi vẫn không giải thích được vì sao. Lưng tôi đau, tay tôi còn run vì cú chụp lan can. Một bàn tay vừa đẩy tôi xuống cầu thang. Mà tôi vẫn đứng dậy, vịn tường, bước qua chiếu nghỉ, đi tiếp lên lầu ba. Như có ai giật một sợi dây buộc ở ngực tôi.
Lần này không có mùi dầu gió chặn lại. Tôi đi qua chiếu nghỉ dễ dàng. Dễ tới mức sau này nghĩ lại tôi mới thấy lạ.
Ngân ngồi ở bàn cạnh cửa sổ. Tập đề của tôi đặt ngay ngắn trước mặt nó, có một cây bút chì gác lên trên. Nó cười khi thấy tôi, cái cười của người vừa thắng một ván cờ nhỏ.
"Vinh lên rồi. Ngồi đi."
Tôi ngồi. Tôi định lấy tập rồi đi. Tôi mở tập ra. Bên lề những trang tôi làm dở, có thêm những dòng chữ mực xanh, tròn, đều, giải tiếp những câu tôi chưa xong. Nét chữ của Ngân. Có trang nó viết cả chữ "cố lên" nhỏ xíu ở góc.
Tôi ngồi đó, không đứng dậy được.
* * *
Ngồi chưa ấm chỗ thì mưa đổ. Mưa Sài Gòn tháng Sáu, ào xuống một lần như ai trút thau nước, gió quất vô kính cửa sổ nghe rào rào. Rồi một tiếng nổ lụp bụp ở đâu đó dưới đường. Đèn bàn tắt. Quạt trần chậm lại, chậm lại, rồi đứng.
Cúp điện. Cả khu tối thui. Qua cửa sổ tôi thấy dãy nhà bên kia đường Lý Chính Thắng chìm vô màu đen, chỉ còn chớp sáng lóe lên từng đợt.
Ngân lấy trong cặp ra một cây đèn cầy trắng, đốt bằng một hộp quẹt diêm. Ánh lửa vàng run run in lên mặt nó, làm hai hốc mắt sâu xuống. Lần đầu tiên tôi thấy Ngân trong ánh sáng khác ánh đèn bàn. Tôi thấy da nó trong như giấy, và dưới cằm, trên cổ, có một vệt tối nhạt chạy ngang, như vết bầm cũ.
Nó nhìn tôi, nói chậm:
"Còn mười ba ngày nữa thi. Vinh hứa với Ngân đi. Tối nào cũng lên. Tới ngày thi mình đi chung."
Tôi mở miệng. Tôi không biết tôi định nói gì.
* * *
Cộp.
Tiếng con dấu vang lên ngoài bàn thủ thư. Một tiếng, rõ, giữa tiếng mưa. Ngân cứng người. Ngọn đèn cầy nghiêng hẳn về một phía như có gió lùa.
Tôi quay ra nhìn. Lần này tôi nhìn.
Qua ba dãy kệ, chỗ bàn thủ thư, có một ánh sáng mờ, tím nhạt, không ra ánh đèn cũng không ra ánh lửa. Trong đó có một người đàn bà ngồi ở ghế thủ thư. Áo dài tím sẫm, tóc búi thấp, cặp kính trễ xuống sống mũi. Bà cúi đầu, tay cầm một cây bút, đang viết vào cuốn sổ mở trước mặt. Tôi nghe được tiếng ngòi bút cào lên giấy, sột soạt, chậm, giữa tiếng mưa.
Bà ngẩng lên. Tôi không thấy được mặt bà, chỉ thấy hai mắt kính lóe lên một cái.
Bà giơ tay. Một ngón tay gầy chỉ thẳng vô phía bàn tụi tôi.
Tôi nghĩ bà chỉ tôi. Tôi tin chắc bà chỉ tôi. Toàn thân tôi lạnh từ gót chân lên.
Ngân đứng bật dậy, nắm cổ tay tôi. Lần này tôi không thấy lạnh nữa. Tay tôi đã lạnh y như tay nó.
"Bả chặn cầu thang trước rồi. Đi lối sau với Ngân. Nhanh."
Nó kéo tôi về phía cánh cửa sắt cạnh cửa sổ. Sợi xích niêm phong đã rớt dưới sàn từ lúc nào. Tờ giấy dán chéo rách làm đôi. Cánh cửa mở toang, mưa tạt vô ướt cả sàn gạch bông. Ngoài kia là cái chiếu nghỉ nhỏ bằng sắt của cầu thang xoắn ốc, gỉ sét, nước chảy ròng ròng.
Ngân bước ra trước. Nó đứng trên mặt sắt, tóc ướt dính vô má, quay lại chìa tay cho tôi.
"Vinh. Lại đây."
Tôi bước một chân ra. Mặt sắt dưới đế giày tôi lún xuống một chút, rung lên, kêu cót két.
* * *
"Vinh!"
Một luồng đèn pin rọi từ cửa chính vô. Chú Tư. Chú đứng ở cửa, áo mưa còn trùm đầu, thở hồng hộc như vừa chạy ba tầng lầu. Luồng sáng quét qua dãy kệ, qua đống sách rớt còn nằm dưới đất từ tuần trước, rồi rọi thẳng vô cánh cửa sắt.
Ánh đèn pin trắng, gắt. Trong ánh sáng đó, tôi thấy cái chiếu nghỉ sắt mình đang đặt một chân lên. Tôi thấy cầu thang xoắn ốc bên dưới nó.
Không có bậc thang nào. Mấy bậc đầu tiên đã gỉ rụng mất từ lâu, chỉ còn trơ cái trục sắt và mấy mẩu sắt gãy chĩa ra như răng. Bên dưới là ba tầng lầu tối om, và nền xi măng sân sau ướt mưa.
Ngân không có ở đó. Chỗ nó vừa đứng chỉ có mưa.
Tôi rút chân lại. Tôi không biết bằng cách nào. Chú Tư chạy tới nắm cổ áo tôi lôi vô, đóng sầm cánh cửa sắt, lấy chân đá sợi xích vô sát chân tường. Chú không nói gì. Tay chú run tới mức đèn pin giật lên giật xuống.
Đèn cầy trên bàn Ngân đã tắt. Bấc còn bốc khói.
* * *
Chú lôi tôi ra cửa. Đi ngang bàn thủ thư, luồng đèn pin của chú lướt qua mặt bàn rồi dừng lại.
Cuốn sổ xanh nằm mở trên bàn. Tôi biết nó bị khóa trong ngăn kéo từ sáng. Ở trang cuối, dưới tên tôi, có một dòng mới, mực tím còn ướt, bóng lên dưới ánh đèn.
"Nguyễn Văn Tư." Cột lớp ghi: "bảo vệ". Ngày trả: 28/6/2012.
Chú Tư đứng nhìn dòng chữ rất lâu. Đèn pin trong tay chú thôi run. Rồi chú gấp cuốn sổ lại, nhẹ nhàng, như gấp một tờ giấy báo tử của người khác.
"Về đi con. Về đi. Đừng lên đây nữa."