Chương 8: Thùng đồ trên gác
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Tôi không biết Ngân là gì. Tôi đã thấy chỗ nó đứng chỉ còn mưa, đã thấy cái cầu thang không còn bậc. Vậy mà tôi vẫn không chịu nghĩ cho hết. Tôi nghĩ, có khi nó cũng bị giữ lại ở đó như tôi, bị bà áo tím đuổi ra lối sau. Tôi nghĩ đủ thứ, trừ cái điều đơn giản nhất.
Cái tôi biết chắc là dòng mực tím. Và tên chú Tư.
Sáng hôm sau tôi xuống phòng bảo vệ. Chú Tư đang ngồi lau cái radio cũ bằng giẻ. Chú cạo râu sạch sẽ, mặc áo sơ mi xanh ủi thẳng, lần đầu tiên tôi thấy chú không có điếu thuốc trên tai.
Tôi nói chú nghỉ làm đi, về quê đi, đi đâu xa xa đi, qua ngày hai mươi tám rồi về. Chú cười.
"Sáu mươi ba rồi con. Bả mất rồi, thằng con ở Bình Dương, có cháu nội rồi. Đi đâu? Mười hai đứa kia... có đứa nào chạy được đâu."
Chú nói chú đã lên chùa Vĩnh Nghiêm thắp nhang, đã gửi tiền cho con. Chú nói chú chỉ tiếc một chuyện là hồi tháng Năm đã cho tôi lên.
* * *
Mấy ngày sau đó tôi tới trường sớm, về trễ, lảng vảng quanh phòng bảo vệ. Chú Tư đuổi, tôi không đi. Chú để tôi ngồi đó học, rót trà cho tôi, kể chuyện trường hồi trước giải phóng. Chú kể cô Thoa hồi đó còn trẻ, đẹp, đạp chiếc xe đạp đầm đi làm, có người theo mà cô không chịu ai.
Tối thứ Ba, hai mươi sáu tháng Sáu, chú Tư đi chợ Bà Chiểu mua một ổ khóa đồng loại lớn và một sợi xích mới. Chú nói với tôi chú sẽ lên khóa cái cửa sắt phía sau cho đàng hoàng. Tôi xin đi theo. Chú không cho. Chú đẩy tôi ra cổng, đứng nhìn tới khi tôi đạp xe khuất đầu đường.
Đó là lần cuối tôi thấy chú.
Sáng thứ Tư, cô lao công thấy chú ở chiếu nghỉ giữa lầu hai và lầu ba dãy C. Chú nằm nghiêng, tay còn nắm cái ổ khóa đồng chưa bóc giấy. Đèn pin lăn xuống mấy bậc dưới, còn sáng yếu. Người ta nói chú đứng tim, tuổi già, leo cầu thang ban đêm.
Còn một ngày nữa mới tới ngày ghi trong sổ.
* * *
Đám chú Tư làm ở nhà con trai chú dưới Bình Dương. Trường thuê xe chở giáo viên đi viếng. Tôi xin đi theo, thầy chủ nhiệm cho. Tôi đứng sau cùng, không dám lại gần quan tài.
Trên xe về, cô Hạnh ngồi cạnh tôi. Xe chạy qua cầu Bình Triệu, nắng chiều đỏ rực trên sông. Cô nói, không nhìn tôi:
"Em muốn coi cái thùng đồ của dì cô không? Mai em ghé nhà cô."
Tôi nói muốn.
Cô nói thêm, cô đã lấy cuốn sổ xanh ra khỏi ngăn kéo thư viện. Cô không dám để nó ở trường nữa. Cô cũng không dám để nó ở nhà. Cô hỏi tôi có dám giữ không.
Tôi im một lúc. Rồi tôi gật. Tôi nghĩ, nếu nó ở với tôi, ít ra tôi biết nó ghi thêm ai.
* * *
Nhà cô Hạnh trong một con hẻm nhỏ gần chợ Vườn Chuối, cách nhà tôi chừng mười lăm phút đạp xe. Má cô là một bà cụ ốm, tóc bạc, nói giọng Huế nặng, ngồi têm trầu ở bộ ván. Bà nhìn tôi lâu, không hỏi tôi là ai.
Cô Hạnh leo lên gác, khiêng xuống một cái thùng các tông cũ, dán băng keo vàng đã giòn, trên nắp ghi bằng bút lông: "Đồ cô Thoa, thư viện". Cô đưa luôn cuốn sổ xanh, bọc trong hai lớp bao ni lông.
Má cô Hạnh nói, lúc tôi dắt xe ra cửa:
"Dì hắn thương học trò lắm. Người ta nói dì khó. Dì chỉ khó với cái chi hại tụi nhỏ."
Tôi chở cái thùng về nhà bằng xe đạp, buộc dây thun sau yên. Cả đường đi tôi ngửi thấy mùi dầu gió.
* * *
Tối đó ba chạy xe tới khuya, má dọn hàng ngủ sớm. Con Út ngủ say bên cạnh, miệng há ra, tay ôm con gấu bông sứt chỉ. Tôi ngồi trên gác, bật đèn bàn, rạch băng keo mở thùng.
Trên cùng là một cái áo dài tím xếp ngay ngắn, vải đã ngả màu tro ở nếp gấp. Dưới đó là một chai dầu gió xanh còn nửa, nắp vặn chặt. Một hộp mực tím, mấy cây bút lá tre. Một con dấu ngày tháng bằng đồng cán gỗ, giống hệt cái ở thư viện, mấy bánh xe ngày tháng đã gỉ cứng lại.
Dưới đáy có một cuốn sổ tay bìa nhựa đen và một tấm hình.
Tôi còn chưa kịp cầm cuốn sổ tay lên thì nghe tiếng "cộp".
Không phải ở trường. Ngay trên gác. Ngay cạnh tôi. Con dấu đồng nằm trong thùng đã lật nghiêng, mặt dấu úp xuống tấm hình, như vừa có ai cầm lên đóng xuống. Ngoài hẻm, cải lương nhà bên tắt ngang giữa câu. Mùi dầu gió dâng lên đầy cái gác chật, cay tới mức con Út nhăn mặt trong giấc ngủ.
Tôi nhấc con dấu ra. Tấm hình nằm úp. Sau lưng hình có một dòng chữ mực tím, nét nghiêng, thanh đậm, tôi đã thuộc từng nét.
"Thư viện, tháng Tư 1999. Con Ngân ngồi kế bên."