Chương 5: Ngõ Vạn Phúc
Khoảng 4 phút đọc·4lượt xem
Chiều chủ nhật tôi mượn xe thằng bạn chạy xuống Hà Đông. Vạn Phúc là làng lụa, ngõ nhỏ, nhà sát nhau, tiếng khung cửi lạch cạch sau những cánh cổng gỗ. Số 14 ngõ 2 là một căn nhà cấp bốn lợp ngói, sân có giàn mướp, một đứa bé gái chừng ba tuổi ngồi chơi với cái chậu nhựa.
Chị Hằng ra mở cổng. Chị trẻ hơn trong ảnh, gầy hơn, mắt thâm. Tôi nói tôi là người trực thay anh Dũng ở toà Tân Hà. Chị đứng im một lúc, rồi mở rộng cổng.
Tôi đưa chị cái ví. Chị cầm, mở ra, nhìn cái chứng minh thư của chồng. Chị không khóc. Chị cầm cái ví bằng hai tay, như người ta cầm một cái bát đầy nước, rồi đặt lên bàn, rồi mới rót nước cho tôi.
* * *
Chị kể, giọng đều, như đã kể nhiều lần cho công an, cho họ hàng, cho chính mình.
Đêm hai mươi mốt tháng ba, anh Dũng đi làm như mọi đêm. Sáng không về. Trưa không về. Chị gọi điện, máy tắt. Chiều chị lên Tân Hà, ông Thịnh nói Dũng đã nghỉ, sáng nay không thấy bàn giao, chắc bỏ việc. Chị nói không thể. Ông Thịnh nói anh Dũng dạo gần đây hay kêu mệt, hay nói linh tinh, có khi đi đâu nghỉ ngơi.
Chị báo công an phường. Người ta hỏi anh có nợ nần không. Có, một ít, tiền sửa nhà. Người ta nói đàn ông nợ nần bỏ đi là thường, chờ đi. Chị chờ. Nửa tháng sau ông Thịnh xuống tận nhà, đưa chị một phong bì, nói là lương ba tháng công ty hỗ trợ, dặn chị cứ bình tĩnh.
"Ba tháng lương. Người bỏ việc ai trả ba tháng lương."
Chị hỏi tôi có thấy gì không. Tôi kể chuyện cái tủ. Tôi không kể chuyện thang. Nhưng chị nhìn tôi, rồi chị tự nói:
"Anh ấy kể với em về cái thang. Hai giờ mười ba. Anh ấy bảo nó dừng ở tầng không có nút. Em bảo anh nghỉ đi, tìm việc khác. Anh ấy bảo không nghỉ được."
Tôi hỏi tại sao không nghỉ được.
"Anh ấy bảo nó gọi tên anh. Đủ cả họ tên, cả quê. Hoàng Văn Dũng, Thanh Oai. Ở đấy anh có kể quê với ai đâu. Mỗi ông Thịnh, ông ấy xem chứng minh thư."
Tôi để cốc nước xuống. Tay tôi ướt mồ hôi dù trời chưa nóng.
Chị kể, Dũng được nhận vào Tân Hà rất lạ. Anh đến xin việc, ông Thịnh không xem bằng cấp, không hỏi kinh nghiệm, chỉ cầm chứng minh thư đọc, rồi bảo mai đi làm. Anh về khoe với chị, bảo ông già ấy dễ tính. Chị nói lúc đó chị còn mừng.
* * *
Chị vào buồng trong, lấy ra một cuốn vở học sinh bìa xanh lá, kẻ ô ly, đưa tôi. Chị nói đây là sổ anh Dũng ghi riêng, để ở nhà, chị đọc mà không hiểu.
Tôi mở ra. Chữ nhỏ, nghiêng, chữ tôi đã thấy trong quyển chín. Trang đầu là một cột ngày tháng, bắt đầu từ cuối năm 2009, cạnh mỗi ngày là "2h13". Hàng trăm dòng, mỗi đêm một dòng. Không đêm nào bỏ. Thỉnh thoảng cạnh "2h13" có thêm một chữ: "gõ", rồi vài tháng sau: "cào", rồi "ướt", rồi "dấu".
Trang giữa có một dòng viết to hơn: "Hùng 2001. Tiến 2005. 13 ngày. Hỏi bà Lộc." Rồi dưới đó: "Hỏi quyển 1. Ông Thịnh giữ. Ông ấy sợ cái gì?"
Trang gần cuối là một bức vẽ nguệch ngoạc. Một hình chữ nhật đứng, tôi hiểu là giếng thang, chia tầng bằng những vạch ngang. Tầng mười ba tô đen kín. Trong khoảng đen ấy có một hình người nhỏ vẽ bằng que, nằm nghiêng, co, một tay giơ lên chạm vạch trần. Cạnh hình người ghi: "Hạnh. Kiến Xương. Anh ấy còn nguyên không?"
Trang cuối cùng chỉ có một dòng, viết ngày hai mươi tháng ba, trước đêm anh biến mất một ngày.
"Nó gọi tên tôi. Nó bảo đến ca tôi rồi."
Tôi gấp cuốn vở lại. Chị Hằng hỏi tên tôi. Không phải hỏi cho biết, mà như người ta dò một cái tên trong danh sách. Tôi nói. Chị gật, bảo anh Dũng từng dặn, nếu có người mới đến hỏi thì đưa cuốn vở cho người ấy. Người mới sẽ nhận việc mười ba ngày sau đêm anh đi.
"Chú vào làm hôm nào?"
Tôi nói mùng ba tháng tư. Chị không nói gì nữa, chỉ đẩy cuốn vở sang phía tôi.
Tôi hỏi chị có muốn tôi làm gì không. Chị nghĩ rất lâu.
"Chú tìm xem anh ấy ở đâu. Em không cần anh ấy về. Em chỉ cần biết."
* * *
Tôi về tới Thanh Xuân lúc chạng vạng, ghé toà nhà dù chưa đến ca. Anh Quý đang khoá phòng kỹ thuật. Anh nhìn mặt tôi, hỏi tôi vừa đi đâu. Tôi nói đi Hà Đông. Anh thở dài, nói anh biết là tôi sẽ đi.
Anh móc túi đưa tôi một cái chìa khoá nhỏ, bằng đồng, đã mòn.
"Chìa tủ hồ sơ trong phòng ông Thịnh. Ông ấy nghỉ ốm tối nay. Chú vào thì vào một mình, lấy xong để lại nguyên chỗ cũ. Và chú đừng bao giờ nói là anh đưa."
Tôi hỏi tại sao anh làm thế. Anh Quý đeo cái túi vải lên vai, nói rất khẽ:
"Vì anh cũng đưa cho Dũng. Anh nghĩ nếu nó biết sớm hơn thì nó đã đi khỏi đây rồi."