☾ Truyện Ma Có Thật
← Thẻ đèn lò số mười bảy

Chương 1: Bảng thẻ phòng đèn

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Mỏ than Khe Gió nằm sau dãy đồi trọc phía bắc thị xã Cẩm Phả, đường lên phải qua hai bãi thải đen như núi mực. Tôi vào mỏ năm mười chín tuổi, theo ông chú họ từ Kiến Xương ra. Năm 1999, tôi bốn mươi, làm trưởng ca ba ở khu Tây, dưới tay ba mươi hai thợ lò. Ca ba là ca đêm, vào lò khi người ta tắt đèn đi ngủ, ra lò khi chợ Cột Năm bắt đầu bày rau.

Ở mỏ, trước khi xuống lò ai cũng phải qua phòng đèn. Đó là một dãy nhà cấp bốn mái tôn sát nhà tắm giặt, trong có giá sắt cắm sạc đèn ắc quy, mỗi ô một số. Thợ đến ô cửa sổ, đưa tấm thẻ đồng của mình, nhận đèn và bình tự cứu. Tấm thẻ được treo lên bảng gỗ sau lưng người phát đèn, vào cột "trong lò". Hết ca, trả đèn, thẻ chuyển sang cột "đã lên". Chùm chìa khóa dự phòng của dãy tủ sắt bên nhà tắm cũng treo ở đó, trên một cái đinh cạnh cửa sổ, phòng khi thợ đánh rơi chìa dưới lò.

Cái bảng gỗ ấy là thứ tôi nhìn nhiều hơn mặt vợ. Cuối ca, trưởng ca phải đứng trước nó, soát xem cột "trong lò" còn trống chưa. Còn một tấm thẻ là còn một người dưới đất, chưa ai được về.

Người phát đèn ca đêm là chị Lụa. Chị ba mươi sáu, người nhỏ, tóc búi thấp, lúc nào cũng mặc áo bảo hộ xanh đã bạc ở hai khuỷu tay. Chị làm ở phòng đèn từ năm 1988, sau khi chồng chị chết dưới lò. Chị ít nói, viết chữ số rất đẹp, nét số bảy bao giờ cũng có một gạch ngang ở giữa như chữ tây.

Đêm mười hai tháng Chín, mưa phùn từ chập tối. Tôi đến phòng đèn sớm, lúc bóng điện ngoài hiên đã bị một bầy thiêu thân vây kín. Chị Lụa đang lau mặt kính đèn bằng một mảnh vải màn. Chị đẩy cho tôi cốc nước chè nóng, không hỏi han gì, như mọi đêm.

"Anh Vượng uống đi cho ấm. Dưới khu Tây hôm nay khí lên đấy."

Tôi uống, rồi đứng đợi thợ đến lĩnh đèn. Ba mươi hai tấm thẻ lần lượt treo vào cột "trong lò". Tôi ký vào sổ ca, đội mũ, bật đèn, rồi dẫn anh em đi xuống cửa lò bằng. Trên đầu tôi lúc ấy, cột "trong lò" có ba mươi ba tấm thẻ, gồm cả tấm của tôi.

Ca ấy không có gì lạ. Lò chợ số hai đổ than đều, máy đo khí có lúc nhảy lên gần ngưỡng, tôi cho dừng khoan một lúc rồi lại làm. Giữa ca nghỉ ăn cơm nắm, thằng Toản ngủ gật trên đống gỗ chống, bị lão Cường lấy mũ gõ vào đầu. Than ra đủ chỉ tiêu. Gần sáng, tôi lùa anh em lên, cả bọn đen từ đầu đến chân, chỉ còn hai con mắt và hàm răng.

Trả đèn xong, tôi đứng trước bảng thẻ như mọi lần. Cột "trong lò" lẽ ra phải trống.

Nhưng nó không trống. Ở góc trên cùng, cái móc sắt nhỏ đã hoen gỉ, cái móc mà mười hai năm nay không ai treo gì vào, có một tấm thẻ đồng.

Tôi không nhận ra ngay. Thẻ bây giờ là thẻ nhôm dập số, trắng, mỏng. Tấm này dày hơn, màu đồng đã xỉn thành nâu sẫm, mép mòn tròn, lỗ xâu dây méo đi một chút. Trên mặt thẻ đóng chìm hai chữ số. Một và bảy. Số bảy có gạch ngang ở giữa.

Tôi đưa tay gỡ nó xuống. Tấm thẻ ấm. Không phải cái ấm của kim loại để trong phòng kín, mà ấm như vừa nằm trong túi áo ai, áp vào ngực.

Tôi quay lại ô cửa sổ. Chị Lụa đang cắm lại đèn vào giá sạc, lưng quay về phía tôi, động tác vẫn đều đều. Tôi hỏi chị đêm nay có ai lĩnh đèn số mười bảy không. Chị không quay lại.

"Làm gì có ô mười bảy hả anh. Từ năm tám bảy mỏ bỏ số ấy rồi còn gì."

Tôi biết. Tôi hỏi chỉ để nghe một người khác nói ra. Trên giá sạc, giữa ô mười sáu và ô mười tám, có một khoảng trống bằng đúng một cây đèn. Không ai cắm gì vào đó. Thợ mới vào hỏi thì thợ cũ bảo kệ, chỗ ấy hỏng ổ cắm.

Lúc tôi đứng đó, cầm tấm thẻ ấm trong tay, lão Cường đi tắm ra, khăn vắt vai, tóc còn nhỏ nước đen. Lão nhìn thấy cái tôi đang cầm. Lão đứng sững lại giữa hiên, chẳng nói chẳng rằng, rồi bỏ khăn xuống, lấy cả hai tay xoa mặt, như người vừa bị ai tát.

"Bỏ đấy. Anh Vượng bỏ đấy cho em."

Tôi hỏi lão sao. Lão không đáp, chỉ nhìn chằm chằm vào cái móc gỉ trên bảng. Mấy thằng thợ trẻ tò mò bu lại. Thằng Toản hỏi thẻ ai mà cũ thế. Lão Cường quay đi, nói một câu nhỏ đến mức chỉ tôi đứng gần mới nghe được.

"Thằng Kiên về rồi."

Tôi treo tấm thẻ lại lên móc. Tôi không biết vì sao mình làm thế. Có lẽ vì tay tôi không muốn cầm nó thêm. Rồi tôi ký sổ ca, ghi đủ ba mươi ba người đã lên, gạch chân như mọi sáng.

Ra đến cổng mỏ, mưa phùn đã tạnh, bãi thải bốc hơi lên trong ánh sáng xám. Tôi đạp xe xuống dốc, qua hai khúc cua, rồi tự dưng bóp phanh. Tôi nhớ ra một chuyện. Năm 1987, tấm thẻ của Kiên được treo trên bảng, cột "trong lò", suốt bốn ngày liền, đến khi người ta xây xong bức tường bịt lò Đông. Rồi một buổi sáng nó biến mất, không ai nhận đã gỡ.

Mười hai năm, tôi chưa từng thấy lại nó. Vậy mà vừa nãy, nó nằm trong lòng bàn tay tôi, còn ấm.