Chương 11: Cái móc để trống
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Sáng hôm sau, tôi mang cả ba thứ lên phòng ông Hào. Chùm chìa khóa, cuốn sổ, lá đơn xin nghỉ. Tôi kể hết, không bớt câu nào, kể cả câu chị Lụa bảo tôi nhát. Ông Hào nghe, tay xoay cây bút. Nghe xong, ông đẩy lá đơn của chị Lụa sang một bên, lấy cái gạt tàn đè lên.
"Chuyện cái thẻ thì mỏ không lập biên bản. Ma thì không ai kỷ luật được."
Ông bảo tôi trả chùm chìa khóa về chỗ cũ. Rồi ông nhấc điện thoại, gọi phòng an toàn, gọi phòng tổ chức, gọi công đoàn, mỗi cuộc một câu ngắn. Tôi ngồi đó nghe ông gọi, và biết tờ biên bản năm 1987 sắp được mở lại.
Hội đồng họp ba lần trong tháng Mười một. Anh Lâm trình bày bản vẽ những mũi tên cháy, tâm nổ ở ngách cụt bên phải. Cái bật lửa khắc chữ Đ.B. đặt trên bàn, trong túi niêm phong.
Hộp ắc quy của Kiên đặt cạnh, những vết vạch được chụp phóng to dán lên tấm bìa. Ông Thự được cháu gái chở đến bằng xe máy, ngồi xe lăn mượn của trạm xá, kể lại chuyện ánh đèn trong kẽ đá. Lão Cường và tôi khai lại. Lần này người ta ghi cả câu chúng tôi không thấy Kiên hút thuốc dưới lò.
Anh Bính đến buổi họp thứ ba. Anh gầy rộc đi, áo sơ mi rộng thùng thình. Anh không chối. Anh đứng lên, đọc một tờ giấy viết sẵn, giọng đều đều như đọc báo cáo sản lượng. Đêm hai mươi tháng Ba, anh vào ngách cụt hút thuốc.
Anh thấy Kiên đi về phía mình, định nói gì đó. Anh bật lửa. Anh chỉ nhớ đến đấy. Ở bệnh viện, anh khai Kiên hút. Ngày thứ hai, anh nằm áp mặt vào kẽ đá, thấy ánh đèn, và anh bảo mọi người không có ai.
Đọc đến đó anh dừng, gấp tờ giấy làm đôi. Anh không đọc nốt.
Biên bản mới ký ngày hai mươi tám tháng Mười một năm 1999. Ngô Văn Kiên chết vì tai nạn lao động, không có lỗi. Tên Kiên được đọc lại ở buổi họp toàn mỏ, lần này đọc cùng tên thằng Hòa, thằng Mạnh, ba người một dòng. Thằng Tùng được hưởng trợ cấp đến năm mười tám tuổi.
Anh Bính bị cách chức, hồ sơ chuyển sang cơ quan điều tra. Anh xin về hưu sớm, về quê vợ ở Đông Triều. Mấy năm sau tôi nghe tin anh mất. Người ta bảo phổi anh đen như than, dù anh đã bỏ thuốc từ lâu.
Ông Thự mất trước Tết, sau Kiên chưa đầy hai tháng. Cháu gái ông bảo hôm biên bản mới ký, ông bắt nó đọc ba lần, rồi ngủ một giấc dài nhất từ ngày ông bị bụi phổi.
Chị Lụa vẫn nộp đơn nghỉ việc. Ông Hào giữ đơn một tháng, gọi chị lên hai lần, chị vẫn xin nghỉ. Chị bảo mười một năm chị ngồi phát đèn cho người ta xuống chỗ chồng mình nằm, giờ đưa được anh lên rồi thì chị về.
Chúng tôi đưa Kiên về Kiến Xương vào một ngày cuối tháng Chạp. Xe ca của mỏ chở ba mươi người, toàn thợ ca ba. Mộ Kiên đặt ở cánh đồng sau làng, cạnh mộ bố Kiên. Chị Lụa không khóc ở huyệt. Chị chỉ đứng sau thằng Tùng, hai tay đặt trên vai nó. Thằng bé mười hai tuổi, cao gần bằng mẹ, cười hở lợi giống bố như đúc.
Tấm thẻ đồng số mười bảy, chị bỏ vào áo quan, đặt lên chỗ ngực Kiên. Chị bảo mười hai năm nó ở với chị, giờ trả lại nhà chị. Cây đèn với hộp ắc quy thì mỏ trả lại sau khi hồ sơ đóng. Chị đặt nó trên bàn thờ, cạnh bát hương, vỏ sắt đen vẫn còn nguyên những vết vạch bằng đinh. Không ai cắm sạc nó nữa.
Mùa xuân năm 2000, khu Đông mở lại. Lò mới không đi vòng. Người ta đào thẳng qua lò cũ, qua chỗ ngách sập, gia cố, dựng vì chống mới. Cái ngách nơi Kiên ngồi được giữ lại, xây một hốc nhỏ, có bát hương bằng ống bơ, thợ đi qua ai cũng dừng lại một chút. Tường chắn năm 1987 phá hẳn, chỉ còn một vệt vữa trên nền lò.
Ở phòng đèn, người phát đèn mới là một cô gái trẻ quê Nam Định. Trên bảng thẻ, cái móc gỉ ở góc trên cùng vẫn còn đó. Không ai gỡ nó đi, cũng không ai treo gì lên. Giữa ô mười sáu và ô mười tám trên giá sạc, khoảng trống vẫn để trống. Thợ mới vào hỏi thì thợ cũ bảo, chỗ ấy có người rồi.
Tôi còn làm trưởng ca thêm chín năm. Năm nào giỗ Kiên tôi cũng về Kiến Xương, ngồi uống chè với chị Lụa ở hiên nhà, nhìn cây đèn trên bàn thờ. Chúng tôi nói chuyện thằng Tùng, chuyện mùa màng, chuyện thợ mỏ. Có một chuyện không ai nhắc, là đêm tôi đứng ở tường chắn. Chị làm hết mọi thứ trên mặt đất. Cái vệt sáng vàng đục trong khe nứt, chị không làm.
Cho đến ngày nghỉ hưu, mỗi lần đi ngang cái hốc có bát hương ống bơ, tôi đều tắt đèn trên mũ. Đứng một lúc trong bóng tối, rồi bật lên.
Có những đêm khí lên, nước trên nóc lò ngừng nhỏ, tôi bật mãi không thấy đèn sáng. Tôi cứ đứng đợi. Bao giờ nó cũng sáng lại, sau một lúc, như có người bên cạnh vừa tính xong còn bao nhiêu điện, và quyết định nhường cho tôi.