☾ Truyện Ma Có Thật
← Thẻ đèn lò số mười bảy

Chương 10: Người treo thẻ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Đêm ấy tôi không về nhà. Tôi tắm, thay quần áo, rồi ngồi ở hiên phòng đèn đợi đến lúc ca ba lĩnh đèn xong. Bầy thiêu thân vẫn vây quanh bóng điện, rụng xuống nền xi măng từng con. Chị Lụa đi làm như mọi đêm. Chị phát đèn, ghi sổ, treo thẻ. Đến lúc thợ đã xuống hết, chị mở cửa ngách bên hông, bảo tôi vào.

Trên bàn gỗ của chị có ba thứ xếp thẳng hàng. Chùm chìa khóa dự phòng của dãy tủ nhà tắm, tháo khỏi cái đinh cạnh cửa sổ. Cuốn sổ xuất đèn bìa xanh. Và một tờ giấy học trò gấp làm tư, chữ số bảy nào cũng có gạch ngang. Đơn xin nghỉ việc.

Chị rót cho tôi cốc chè, như mọi đêm. Rồi chị ngồi xuống đối diện, hai tay đặt lên đùi.

"Anh hỏi đi. Em trả lời hết."

Tôi hỏi tấm thẻ. Chị kể. Sáng ngày thứ tư năm 1987, lúc người ta xây xong tường chắn, chị ra phòng đèn tìm người phát đèn hồi ấy, xin cái thẻ của chồng.

Người ta bảo phải nộp lên phòng tổ chức, chờ lập biên bản. Chị đứng đợi. Lúc người phát đèn quay đi, chị gỡ nó xuống, giấu vào trong áo. Mười hai năm, nó nằm trong túi áo ngực của chị, đêm đi ngủ thì nằm dưới gối.

"Nó ấm là vì em. Không phải vì nhà em."

Tháng Tám năm ấy, chị nghe tài xế của anh Bính ngồi uống nước ở hiên kể chuyện mỏ sắp mở khu Đông, bơm bê tông chèn kín chỗ sập cũ cho nhanh. Đêm ấy chị không ngủ. Mười hai năm chị viết đơn, sáu lá, lá nào cũng về đến bàn anh Bính rồi nằm đó. Chị đi gặp ông Thự, hỏi kỹ đường vào ngách. Rồi chị nghĩ ra.

"Đơn của em thì người ta không đọc. Thợ lò sợ ma thì người ta phải đọc."

Mỗi sáng hết ca ba, thợ dồn vào nhà tắm, phòng đèn vắng chừng mười phút. Chị treo tấm thẻ lên cái móc gỉ trong mười phút ấy. Sáng anh cất nó vào tủ, chị lấy chùm chìa dự phòng, mở tủ anh lúc anh đã về ngủ, rồi chiều đến sớm treo lại. Hôm sau, đổi lại chỗ cũ, khóa lại như cũ.

Tôi hỏi cây đèn. Chị bảo chị mua ở kho thanh lý, mười lăm nghìn, loại đèn đúng như của nhà chị. Ổ cắm ô mười bảy hỏng thật, chị tự thay. Chị làm phòng đèn mười một năm, sửa ổ sạc với dây đèn còn nhanh hơn thợ điện. Đêm tôi để cây đèn lên bàn, chị cắm lại vào lúc chúng tôi dưới lò, rồi gục xuống bàn mà đợi.

"Em không ngủ đâu anh. Em nằm nghe anh đi vào."

Còn dòng chữ trong sổ, chị viết bằng chính tay mình. Viết chậm, nắn từng nét theo chữ trong mấy lá thư nhà chị gửi về quê hồi còn yêu nhau. Hai chữ "chưa lên", chị viết thêm lúc tôi dẫn thợ đi tắm. Chị bảo chị đè bút mạnh vì tay run.

Tôi ngồi nghe mà không thấy giận. Tôi chỉ thấy lại từng thứ tôi đã nhìn mà không nhìn. Con số bảy gạch ngang.

Tấm thẻ ấm như vừa áp vào ngực. Bàn tay chị ấn lên túi áo suốt chín đêm. Câu chị hỏi tôi ở cuộc họp, bơm bê tông thì có đào vào chỗ nhà em không. Và cái móc gỉ trống trơn đúng vào cái sáng ông Hào gật đầu.

Tôi hỏi chị sao lại chọn tôi.

Chị nhìn tôi rất thẳng.

"Vì anh ký. Em biết anh không độc. Anh chỉ nhát. Người nhát mà biết sợ thì mới chịu xuống tận nơi."

Tôi không cãi được câu nào. Chị nói tiếp, chậm hơn. Chị bảo chị biết nhà chị không hút thuốc, vì chính chị bắt bỏ. Chị biết chuyện anh Bính, vì đêm trước khi đi ca, nhà chị nằm cạnh chị, thở dài, bảo lão Bính lại mang lửa xuống, mai em nói thẳng với lão, không thì em báo lên. Chị bảo chị không có giấy tờ gì. Chỉ có câu nói của một người đã chết, mà lời người chết thì mỏ không ghi.

"Em cần cái đèn của nhà em. Em biết nhà em ngồi chờ, em biết thế nào cũng để lại cái gì. Nhà em làm gì cũng cẩn thận."

Chị lấy ở trong ngăn kéo ra một mảnh vỏ bao xi măng gấp vuông, mở ra cho tôi xem. Sơ đồ ông Thự vẽ bằng bút chì, cái ngách sập khoanh tròn, bên cạnh có chữ của chị: "chỗ nhà em ngồi". Chị gấp lại, đặt lên chồng giấy, cạnh chùm chìa khóa.

Rồi chị đẩy cả ba thứ về phía tôi. Chị bảo anh mang lên cho ông Hào, kể hết, chị nhận. Chị làm cả mỏ sợ, làm thằng Toản khóc, làm tám người liều mạng chín đêm. Chị bảo người ta đuổi chị cũng được, đơn chị viết sẵn rồi.

Tôi không cầm lên. Tôi hỏi chị câu tôi muốn hỏi nhất, câu tôi đã giữ từ đêm ở tường chắn.

"Thế cái đèn sau bức tường. Đêm ấy chị xuống bằng đường nào."

Chị lắc đầu. Chậm, rồi mạnh dần.

"Em chưa xuống lò bao giờ, anh Vượng. Đàn bà xuống lò là lò giận, nhà em dặn em thế từ hồi mới cưới. Em làm ma được trên này. Dưới ấy thì em không dám."

Chị nhìn tôi, mắt mở to, cái mặt trắng bệch như hôm tôi kể. Đến lúc ấy tôi mới hiểu vì sao hôm đó chị ngồi sụp xuống ghế. Chị đã tưởng mình bịa ra tất cả. Đến đêm ấy, chị mới biết không phải thế.

Chị cúi xuống, lấy ngón tay vạch lên mặt bàn gỗ, chậm, như người tập viết. Sáng nay ở cửa lò, chị chỉ đọc mấy dòng trên vỏ hộp ắc quy qua lớp ni lông mờ hơi nước, một lần. Vậy mà chị nhớ từng chữ. Ngón tay chị dừng lại ở dòng thứ hai.

"Đèn còn ít, bật tắt cho đỡ hao."

Chị đọc nó thành tiếng, rồi nhìn tôi. Chị không hỏi gì nữa. Tôi cũng không.