☾ Truyện Ma Có Thật
← Thư gửi người đã chết

Chương 1: Thư về xóm Bái

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tháng Hai năm 1996 tôi nhận tuyến thư của xã. Tôi hai mươi hai tuổi, người Mường xóm Chiềng, học hết lớp mười hai thì ở nhà làm nương với mế. Bưu cục huyện ở thị trấn Mường Khến cần một người thay chú Tòng, bưu tá già đã đạp xe khắp xã mười bảy năm. Chú bị đau lưng, không ngồi yên trên yên xe được nữa. Anh Đức trưởng bưu cục hỏi ai biết đường các xóm, biết nói tiếng Mường, chịu đi mưa. Tôi nhận.

Người ta giao cho tôi một chiếc xe đạp khung cao sơn xanh đã tróc, một túi bạt xanh có quai đeo chéo, một cuốn sổ phát thư bìa cứng. Mỗi sáng thứ hai và thứ năm tôi đạp ra thị trấn, nhận bó thư buộc dây chun, rồi đạp về, đi từng xóm. Đường xã hồi ấy là đường đất đỏ, mưa xuống thì bánh xe dính bùn quánh như cơm nếp. Nhiều đoạn phải dắt. Có xóm phải lội qua suối, xách xe lên vai.

Thư hồi ấy ít. Chủ yếu là giấy báo của huyện, thư bộ đội gửi về, thư con cái đi làm dưới xuôi, thỉnh thoảng một cái phiếu chuyển tiền. Người nhận thư ở xóm tôi coi cái thư như cái lễ. Họ rửa tay, chùi vào vạt áo rồi mới cầm. Người không biết chữ thì nhờ tôi đọc ngay ở chân cầu thang.

Hôm bàn giao, chú Tòng ngồi với tôi ở hiên bưu cục, đi qua từng trang sổ. Chú dặn nhà này có chó dữ, nhà kia ông cụ lãng tai phải gọi to. Đến một dòng chú dừng lại, gõ ngón tay lên đó.

"Thư cho ông Thìn xóm Bái thì cứ mang đến, đưa tận tay bà Ỏn."

Tôi nói ông Thìn chết rồi mà chú. Tôi nhớ. Đám ông Thìn làm hồi tháng Tám năm 1994, ông mo đọc ba ngày ba đêm, tôi có đi theo mế mang gạo đến. Chú Tòng gật, như thể tôi vừa nói trời hôm nay nắng.

"Chết rồi. Thư vẫn về, tháng một cái. Cháu đưa cho bà ấy. Mà nhớ, thư ấy đừng để qua đêm trong túi."

Tôi hỏi vì sao. Chú Tòng nhìn ra ngoài đường, nơi mấy con gà đang bới dưới gốc xoan. Chú nói chú cũng không biết. Chú chỉ biết có một lần chú để quên nó trong túi, mang về nhà, và đêm ấy chú không ngủ được. Chú không nói thêm.

Tháng Ba, bó thư đầu tháng có cái phong bì ấy. Phong bì giấy nâu loại rẻ, dán tem, đóng dấu bưu điện Hà Nội. Chữ đề ngoài viết bằng bút bi xanh, nét nghiêng, run run như người viết lúc lạnh tay. "Ông Quách Văn Thìn, xóm Bái, xã Đồng Vang, huyện Tân Lạc, Hòa Bình." Không có tên người gửi. Tôi cầm lên nghe nhẹ tênh, lật mặt sau, mép dán khít.

Xóm Bái nằm cuối xã, sau một quả đồi chè. Nhà ông Thìn là nhà sàn gỗ lim, mái lợp lá cọ, bốn bậc cầu thang đá ở chân. Hồi ông còn sống, nhà ấy có tiếng đông nhất xóm, hội nào trai gái cũng kéo đến uống rượu cần, ông Thìn thổi kèn lá giỏi. Giờ cái sân đất mọc cỏ gà lên đến mắt cá. Dưới gầm sàn, cái chuồng gà đan bằng nứa trống trơn, cửa chuồng buộc dây mây chặt.

Tôi đứng dưới sân gọi. Một lúc lâu mới thấy bà Ỏn ra đầu cầu thang. Tôi nhớ bà hồi trước là người đậm, má đỏ, cười to. Người đứng trên cầu thang bây giờ gầy rộc, áo pắn cài lệch một hàng khuy, cái váy đen cạp thêu đã bạc. Tóc bà búi lỏng, lòi ra mấy sợi bạc.

"Con bé nhà ai đấy?"

Tôi nói cháu là Dịu, con mế Thảo xóm Chiềng, cháu thay chú Tòng đưa thư. Bà nhìn cái túi bạt trên vai tôi. Bà không hỏi có thư gì. Bà bước xuống từng bậc, chậm, tay vịn cột.

Tôi chìa phong bì. Bà đưa cả hai tay ra đỡ. Tay bà lạnh, đầu ngón vàng như nghệ. Ở cổ tay trái bà buộc một vòng chỉ màu chàm đã sẫm gần thành đen, thắt một nút nhỏ. Vòng chỉ ấy thít vào da, chỗ da quanh nó trắng bệch, lằn lên một rãnh như người ta buộc lạt quanh bó mạ quá chặt.

Bà không mở thư. Bà ép nó vào ngực, đứng như thế một lúc. Tôi đưa cuốn sổ cho bà ký nhận. Bà nói bà không biết chữ, bà điểm chỉ. Tôi lấy hộp mực dấu cho bà ấn ngón cái. Dấu vân tay bà nhòe, mờ, như ngón tay không còn đủ thịt để in.

"Cháu có đọc giúp bà không?" Tôi hỏi.

Bà lắc đầu. Rồi bà nhìn tôi rất lâu, cái nhìn làm tôi tự dưng muốn đứng lùi lại.

"Cái thư này về tay bà thì bà giữ. Không ai được giữ hộ. Cháu nhớ chưa?"

Tôi dạ. Lúc tôi dắt xe ra cổng, gió trên đồi chè thổi xuống, mang theo mùi thuốc lào nồng, mùi người đàn ông vừa rít xong một điếu. Trong xóm không có ai đang hút. Tôi ngoái lại. Bà Ỏn vẫn đứng ở chân cầu thang, cái thư áp ngực, mắt nhìn vào gầm sàn, nhìn cái chuồng gà trống không.

Tối hôm ấy tôi ngồi cộng sổ dưới đèn dầu. Mế đã ngủ. Trong túi bạt không còn cái thư nào, tôi đã kiểm hai lần. Lúc tôi tháo quai túi treo lên đinh, tôi thấy ở chỗ khóa đồng có một sợi chỉ màu chàm quấn ba vòng. Sợi chỉ thắt một nút nhỏ y như cái nút trên cổ tay bà Ỏn.

Tôi không buộc sợi chỉ ấy. Tôi gỡ nó ra, vứt vào bếp. Lửa liếm qua, sợi chỉ co lại, không cháy hẳn mà quăn thành một cục đen.

Quá nửa đêm, từ phía cuối xã, sau quả đồi chè, có tiếng gà gáy. Một tiếng thôi, dài, khàn. Gà trong chuồng nhà tôi không con nào đáp lại. Còn lâu lắm mới đến giờ gà gáy sáng.