Chương 2: Đêm mưa trên nhà sàn
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tháng Tư, cái phong bì nâu lại nằm trong bó thư. Cùng nét chữ nghiêng run, cùng dấu bưu điện Hà Nội, chỉ khác ngày. Tôi để nó lên cùng, đi xóm Bái trước, như thể đi trước thì đỡ phải mang nó lâu.
Hôm ấy trời oi từ sáng. Đến trưa mây đen kéo từ phía núi Đồi Bương về, sấm rền như có người lăn thùng phuy trên mái. Tôi vừa dắt xe qua suối Bái thì mưa đổ. Mưa rừng không có hạt, nó đổ thành tảng. Tôi chạy được đến chân cầu thang nhà bà Ỏn thì ướt từ đầu đến chân, may cái túi bạt có lót ni lông.
Bà Ỏn gọi tôi lên. Bà nhận thư bằng hai tay như lần trước, không mở, đặt nó lên cái chạn gỗ cạnh bếp. Bà lấy cho tôi bộ áo pắn, cái váy cũ của bà để thay. Bếp lửa giữa sàn còn than. Bà thổi lên, đặt ấm nước chè xanh.
Đến chiều, nước suối Bái lên đỏ ngầu, cuốn cả cây chuối trôi qua. Không ai lội nổi. Bà Ỏn nói con ngủ lại đây, mai nước rút hãy về. Tôi không có cách nào khác.
Nhà sàn chia hai gian. Gian ngoài có bếp và bàn thờ, gian trong là chỗ ngủ. Trên bàn thờ có ảnh ông Thìn chụp hồi ông còn mặc quân phục, đầu đội mũ cối, cười nửa miệng. Bên cạnh là cái kèn lá ông thổi ngày xưa, buộc dải vải đỏ. Bà Ỏn trải cho tôi cái đệm bông gạo ở gian ngoài, gần bếp. Bà nằm gian trong, buông màn.
Bữa tối bà ăn chưa được nửa bát cơm. Tôi để ý bà gắp thức ăn bằng tay phải, tay trái đặt trong lòng, như cái cổ tay buộc chỉ đau không cử động được. Tôi hỏi bà đau ở đâu, bà nói không đau. Tôi hỏi sao bà không nuôi gà nữa. Bà nói nuôi con nào chết con ấy.
"Mà con đừng có hỏi. Nằm thì cứ nằm, nghe gì cũng đừng dậy."
Tôi nằm nghe mưa. Mưa trên mái lá cọ nghe như hàng trăm ngón tay gõ, lâu dần thành một thứ tiếng đều đều làm người ta buồn ngủ. Than trong bếp đỏ rồi tối dần. Tôi thiếp đi lúc nào không biết.
Tôi tỉnh dậy vì yên lặng. Mưa đã tạnh. Ếch nhái ngoài ruộng đang kêu ran tự dưng im bặt, cùng một lúc, như có ai giơ tay ra hiệu. Hơi lạnh từ khe sàn bốc lên, lạnh như nước suối đầu nguồn. Rồi một mùi thuốc lào nồng ngai ngái tỏa ra, mùi tôi đã ngửi thấy ở cổng hôm trước.
Dưới gầm sàn, ngay dưới chỗ tôi nằm, một con gà gáy.
Nó gáy dài, khàn, nghe rõ cả tiếng hơi tắc trong cổ ở cuối. Tôi nằm cứng người. Tôi nhớ cái chuồng gà trống không, cửa buộc dây mây. Nhà này không còn con gà nào.
Rồi có tiếng bước chân lên cầu thang. Bậc đá dưới cùng, rồi bậc gỗ. Từng bậc một, nặng, chậm, như người già lên dốc. Tấm ván sàn ở đầu cầu thang kêu cót một tiếng, cái tiếng ván lim có người đứng lên. Cửa không mở. Tôi biết cửa không mở vì cái then tre vẫn cài, tôi nhìn thấy nó dưới ánh than.
Trong gian trong, bà Ỏn trở mình. Giọng bà nhỏ, khàn, nói tiếng Mường.
"Ông về rồi à. Ông ngồi đi. Bếp còn lửa."
Tôi không dám quay đầu. Tôi nằm nghiêng, mặt quay vào vách, nghe sau lưng mình cái tiếng một người ngồi xuống sàn cạnh bếp, cái tiếng xương đầu gối kêu khục khi gập lại. Mùi thuốc lào đặc đến mức tôi phải thở bằng miệng. Có tiếng cời than, que củi gạt vào đá kê nồi.
Cứ thế không biết bao lâu. Tôi đếm hơi thở của mình cho khỏi run. Lần thứ hai con gà dưới gầm sàn gáy, tiếng ngắn hơn, đứt quãng. Tiếng ván sàn kêu, người ấy đứng dậy. Bước chân đi xuống cầu thang. Đến bậc đá cuối cùng thì không nghe nữa.
Ếch nhái ngoài ruộng kêu lại.
Sáng ra, nắng lên trong veo, như chưa từng có trận mưa nào. Bà Ỏn dậy trước tôi, ngồi bên bếp. Tôi nhìn chỗ cạnh bếp. Than trong bếp đã được cời lại thành một đống gọn gàng, đầu que củi cháy dở chĩa ra ngoài, như có người vừa ngồi sưởi. Bà Ỏn không nói gì đến chuyện đêm qua.
Bà mở cái thư hôm qua trước mặt tôi. Có lẽ bà nghĩ tôi ngủ một đêm ở nhà bà rồi thì không cần giấu. Trong phong bì là một tờ giấy bản gấp tư, mỏng, vàng như lá chuối khô. Trên giấy vẽ bằng mực tàu một hình người đứng, hai tay dang ra, từ hai cổ tay tỏa ra những đường cong như sợi chỉ bị gió thổi. Quanh hình người là những chữ ngoằn ngoèo tôi không đọc được, không phải chữ quốc ngữ, cũng không giống chữ Nho trên câu đối.
Kẹp trong tờ giấy là hai sợi chỉ, một sợi chàm, một sợi tơ trắng, dài chừng một gang tay. Hai sợi buộc vào nhau bằng một cái nút. Bà Ỏn cầm nó lên, tay run, cái nút tuột ra. Chỉ một cái run tay mà nó tuột. Hai sợi chỉ rời nhau, rơi xuống sàn.
Bà Ỏn nhìn hai sợi chỉ rơi như nhìn con rắn. Bà nhặt chúng bằng hai đầu ngón tay, cùng tờ giấy bản gấp lại, nhét vào một cái ống nứa to bằng cổ tay, đầu bịt nút lá chuối khô. Rồi bà đứng lên, kiễng chân, gác cái ống nứa lên gác bếp.
Trên gác bếp, lẫn giữa những bó ngô treo, những miếng thịt trâu gác bếp, tôi thấy còn cả một hàng ống nứa nữa, mười mấy cái, ám khói đen bóng, đầu nút lá chuối.
"Ống nào cũng có thư à bà?"
Bà Ỏn không trả lời. Bà vén tay áo trái lên, lấy nước chè trong ấm thấm vào cái vòng chỉ chàm ở cổ tay. Chỗ da dưới vòng chỉ hôm nay không trắng nữa. Nó tím lại, rỉ ra một vệt nước vàng.