Chương 9: Hai con dấu tròn
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi xin anh Đức nghỉ ba ngày. Anh hỏi đi đâu, tôi nói đi Hà Nội trả một cái thư. Anh nhìn bàn tay quấn vải của tôi, không hỏi nữa, rút trong ví ra năm chục nghìn dúi vào túi bạt.
Xe khách từ Mường Khến về bến Kim Mã mất gần trọn một ngày. Tôi chưa ra Hà Nội bao giờ, cầm cuốn sổ phát thư mở sẵn trang có địa chỉ mà hỏi từng người. Cái ngõ ghi trong sổ nhỏ đến mức hai người tránh nhau phải nghiêng vai.
Bà Duyên ở tầng trệt một căn nhà ba tầng, cửa gỗ sơn xanh đã bong. Người mở cửa là một bà cụ nhỏ người, tóc bạc cắt ngắn, mặc bộ đồ lụa màu cháo lòng, đeo kính gọng đồi mồi. Bà nhìn cái túi bạt xanh trên vai tôi trước, rồi mới nhìn mặt.
"Cháu ở bưu điện trên ấy à?"
Tôi chưa kịp nói gì, bà đã lùi vào cho tôi đi qua.
Trên bàn có cái hộp bánh quy bằng thiếc, nắp in hình hoa hồng đã tróc sơn. Bà Duyên mở nắp. Trong đó là một xấp phong bì giấy nâu buộc dây chun, nét chữ nghiêng run, cái móc lưỡi câu ở chữ "Th". Mười bốn cái. Bên dưới là một lá thư cũ gấp làm tư, giấy học trò kẻ ô.
Bà để tôi đọc lá thư ấy, thư ông Thìn viết tháng Ba năm 1993. Ông viết ngắn. Ông xin lỗi cô giáo vì chuyện năm Mậu Tuất, ông kể ông đã biết vì sao. Ông không xin cô tha cho mình. Ông xin cô cứu vợ ông. Câu cuối ông viết: "Tôi biết tôi không có quyền xin cô điều gì. Nhưng người làm thì đã làm, người chịu thì không nên chịu thêm."
Tôi kể cho bà Duyên nghe chuyện hai năm qua. Bà ngồi nghe, hai tay đặt trên nắp hộp thiếc. Đến chỗ bà Ỏn tưởng bà gửi bùa đòi mạng, bà Duyên nhắm mắt lại.
"Tôi cứ nghĩ chị ấy biết. Tôi không viết gì, vì tôi không biết viết gì cho chị ấy. Mỗi tháng ra bưu điện bỏ một cái, tôi tưởng thế là đủ."
Tôi nói ông mo bảo phải có tay bà. Nút hai người buộc thì hai người cởi. Bà Duyên im lâu đến mức tôi nghe rõ tiếng xe xích lô ngoài đầu ngõ.
"Ba mươi tám năm," bà nói. "Ba mươi tám năm tôi không lên lại chỗ ấy."
Sáng hôm sau, bà Duyên khóa cửa, xách theo cái túi cói và cái hộp thiếc, đi cùng tôi ra bến xe.
Chúng tôi về đến xóm Bái chiều mười ba tháng Bảy âm. Bà Duyên đi bộ từ đường cái vào, không cho ai đỡ, như ba mươi tám năm trước bà đi bộ ra. Đến chân cầu thang nhà sàn, bà dừng lại, nhìn cái chuồng gà trống không rất lâu. Rồi bà bước lên.
Bà Ỏn ngồi dựa cột cái, đã thay bộ áo pắn mới, tóc búi gọn. Hai người đàn bà nhìn nhau. Không ai chào. Bà Ỏn chống tay định quỳ xuống. Bà Duyên giữ vai bà lại.
"Thôi," bà Duyên nói. "Chị ngồi yên."
Đêm ấy ông Khiêm ngồi bên bếp đọc mo, giọng trầm, đều, như nước chảy qua đá. Anh Sình hạ hai mươi mốt cái ống nứa, cạy sáp ong. Tờ giấy bản nào cũng do bà Duyên đặt vào tay bà Ỏn, rồi hai bàn tay cùng đưa vào lửa. Hai mươi mốt lần. Mùi giấy, mùi chỉ khét, mùi thuốc lào đặc lại trong nhà.
Côn trùng ngoài vườn im bặt từ lúc nào. Bên kia bếp, chỗ ông Thìn ngồi đêm trước, có một khoảng tối đặc hơn chỗ khác. Tôi biết ông ở đó.
Tờ cuối cùng cháy hết, ông Khiêm gật đầu với bà Duyên. Bà Duyên gỡ lớp vải trên cổ tay bà Ỏn. Vết rãnh đỏ, sâu, cái nút chỉ chàm lấp ló trong thịt như hạt đậu đen. Bà Duyên cúi xuống, dùng hai đầu ngón tay gầy khều cái nút ra. Bà Ỏn cắn môi, đưa tay phải lên cùng giữ một đầu chỉ.
Cái nút ba mươi tám năm không cởi được, dưới bốn ngón tay của hai bà cụ, tuột ra như nút buộc gói bánh.
Ngoài sân có tiếng kèn lá. Một điệu Mường cũ, điệu trai gái gọi nhau ngày hội. Bà Duyên ngẩng lên, nhìn ra cửa. Tôi thấy bà khóc. Khoảng tối bên kia bếp không còn nữa. Tiếng bước chân xuống cầu thang, nhẹ, không tập tễnh, xuống hết bậc đá thì tắt. Tiếng kèn lá xa dần về phía đồi chè.
Dưới gầm sàn không có tiếng gà nào. Gần sáng, gà cả xóm gáy, như mọi buổi sáng khác.
Bà Duyên ở lại đến hết rằm rồi về. Mười bốn cái phong bì còn lại, bà vẫn ra cái quầy bưu điện quen gửi đi mỗi tháng một cái, như đã hứa với ông Thìn. Tôi mang lên, bà Ỏn tự tay đốt ở bếp. Vết rãnh trên cổ tay bà liền lại thành một vòng sẹo trắng. Cuối năm ấy bà nuôi một con gà trống. Nó sống.
Cái thư cuối cùng về tháng Chín năm 1997. Trong phong bì không có bùa. Chỉ có hai sợi chỉ, một chàm một trắng, nằm rời nhau, và một mẩu giấy học trò. Lần đầu tiên bà Duyên viết cho bà Ỏn, bằng nét chữ giáo viên tròn trịa: "Xong rồi, chị Ỏn ạ."
Ông Khiêm mất năm 1999. Bà Duyên mất năm 2001 ở Hà Nội, bà Ỏn bắt anh Sình đưa xuống tận nơi để chịu tang. Bà Ỏn mất năm 2004, ngủ một giấc không dậy, cổ tay trái để trần.
Trước khi mất, bà đưa tôi cái phong bì cuối cùng ấy. Giờ tôi đã ngoài năm mươi, làm ở điểm bưu điện văn hóa xã. Cái phong bì nằm trong ngăn kéo bàn tôi. Ở góc nó có hai con dấu tròn, dấu đi của Hà Nội, dấu đến của bưu cục Mường Khến mà tôi đóng ngày ấy, tay còn sẹo bỏng. Hai vòng mực chồng mép lên nhau, mép trong của vòng này nằm gọn trong mép vòng kia, như hai cái vòng chỉ đã cởi ra mà không ai nỡ vứt.
Những ngày nồm ẩm, tôi mở ngăn kéo vẫn ngửi thấy thoang thoảng mùi thuốc lào. Và chưa bao giờ, chưa một lần nào, tôi để một lá thư của ai qua đêm trong túi.