☾ Truyện Ma Có Thật
← Thư gửi người đã chết

Chương 8: Nút chỉ năm Mậu Tuất

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Bà Ỏn kể bằng tiếng Mường, chậm, nhiều chỗ dừng lại thở. Ông Khiêm ngồi bên bếp, không nhìn bà, nhìn lửa.

"Năm ấy là năm Mậu Tuất. Tôi mười chín tuổi. Tôi thương ông Thìn từ hồi còn chăn trâu, ông ấy đi bộ đội tôi đếm ngày. Ông ấy về thì ông ấy đi học chữ với cô giáo. Tối nào tôi cũng đứng ngoài nhà văn hóa nhìn vào. Ông ấy nhìn cô giáo như nhìn mặt trăng."

Đêm ấy bà ôm con gà trống lông tía của bố bà lên xóm Trên gõ cửa ông mo Lường. Trong túi áo bà có cuộn chỉ chàm tháo từ cạp váy cưới mẹ để dành cho. Ông mo Lường không muốn làm. Bà quỳ ở chân cầu thang từ chập tối đến lúc sương xuống. Cuối cùng ông mo gọi bà lên.

"Ông mo cắt cổ con gà. Ông vẽ lên tờ giấy bản một hình người chắp tay, lấy máu gà viết chữ quanh. Ông lấy một sợi chỉ chàm, một đầu buộc vào cổ tay tôi, thắt nút chết. Đầu kia ông cuốn vào tờ giấy, đốt thành tro, bỏ vào bát rượu. Ông dặn hội Khai hạ thì mời ông Thìn uống. Ông ấy uống sợi chỉ vào người, đầu kia ở tay tôi."

Bà dừng lại, kéo hơi.

"Ông mo còn dặn một câu. Buộc thì phải giữ cả đời. Người kia mà chết trước thì nút kéo ngược về người buộc. Ông bảo tôi nghĩ cho kỹ. Tôi mười chín tuổi. Tôi không nghĩ."

Hội Khai hạ năm ấy, bà mời ông Thìn bát rượu. Đêm đó, lúc gà gáy, ông Thìn đến chân cầu thang nhà bà, không thổi kèn lá, chỉ đứng đó. Một tháng sau cưới. Cô giáo Duyên về xuôi. Từ năm ấy, bà Ỏn nuôi con gà trống nào chết con ấy.

"Ông ấy tốt với tôi ba mươi sáu năm. Không đánh, không chửi, không đi với ai. Mà mắt ông ấy như người đang ngủ. Ông ấy không thổi kèn lá nữa. Chúng tôi không có con."

Sợi chỉ trên cổ tay bà là sợi chỉ năm ấy. Ba mươi sáu năm bà không cởi, sợ cởi ra thì ông Thìn tỉnh, bỏ bà mà đi.

Tháng Mười năm 1994, hai tháng sau đám, cái thư Hà Nội đầu tiên về. Bà Ỏn không biết chữ, nhưng chú Tòng đọc cho bà cái dấu bưu điện. Hà Nội. Bà biết ngay là ai. Bà mở ra thấy tờ giấy bản vẽ bùa, thấy sợi chỉ chàm. Bà nghĩ cô giáo đã biết hết, đã đợi ông Thìn chết để trả.

"Tôi đưa lại cái vỏ cho ông Tòng, bảo trả về. Ông Tòng không biết trả đi đâu, ông cất. Tháng sau nó lại về. Tôi nghĩ thôi, nó đòi thì tôi trả. Tôi đáng. Tôi giữ lại hết, không đốt, không vứt. Tôi để nó đòi."

Bà quay sang ông Khiêm.

"Ông mo bảo tôi đốt. Bố ông buộc cho tôi, giờ con ông bảo tôi đốt bùa của nó vào bếp nhà tôi. Tôi làm sao tin."

Ông Khiêm đặt que củi xuống. Bà Ỏn đã tự nói rồi, lời thề đã được trả. Ông kể phần còn lại.

Năm 1985, ông mo Lường hấp hối, cho gọi ông Thìn lên nói chuyện riêng. Ông Khiêm đứng ngoài cửa, nghe được. Ông mo kể cho ông Thìn cái bát rượu năm Mậu Tuất, xin ông Thìn tha cho ông, tha cho bà Ỏn.

"Ông Thìn biết từ năm ấy," ông Khiêm nói. "Biết mà không nói với bà một lời. Chín năm."

Bà Ỏn đưa tay phải lên bịt miệng.

Năm 1993, ông Thìn ốm nặng, biết mình không qua được. Ông lên nhà ông Khiêm, hỏi ông chết rồi thì bà Ỏn ra sao. Ông Khiêm nói thật. Nút sẽ kéo ngược, vía ông không đi được, sẽ về kéo bà theo. Ông Thìn hỏi cách cởi.

"Ông bảo ông Thìn: bùa mê lấy đi phần của ai thì phải người ấy trả lại mới cởi được. Ông vẽ ba mươi sáu tờ bùa giải, ứng với ba mươi sáu năm. Mỗi tháng một tờ, phải gửi từ tay người ấy, từ chỗ người ấy ở, về đúng cái nhà này. Ngoài bì phải đề tên ông Thìn, để bùa giải tìm đúng vía. Thư về thì đốt ở bếp, nơi bát rượu năm xưa được hâm, mỗi lần đốt thì một sợi vía được thả."

Ông Thìn viết thư cho cô giáo Duyên, gửi bảo đảm. Một tháng sau ông đi Hà Nội. Ông mang theo ba mươi sáu tờ giấy bản, ba mươi sáu cái phong bì nâu mua ở bưu cục huyện. Ông ngồi ở nhà cô giáo, tự tay đề tên mình lên cả ba mươi sáu cái.

"Bà ấy nhận lời," ông Khiêm nói. "Ông Thìn về kể với ông thế. Bà ấy chỉ bảo một câu: tôi gửi, nhưng tôi không viết gì cho chị ấy."

Bà Ỏn ngồi im. Rồi bà gập người xuống, trán chạm sàn, cái cổ tay quấn vải đè dưới ngực. Bà không khóc thành tiếng. Vai bà rung lên, đều đặn, như người đang giã gạo.

Người bà tưởng đã gửi bùa đòi mạng bà suốt hai năm là người bà đã cướp mất chồng. Và người ấy, tháng nào cũng ra bưu điện, gửi đi một tờ giấy để cứu bà.

Tôi hỏi ông Khiêm giờ đốt hết hai mươi mốt cái thư trong ống thì bà có khỏi không. Ông lắc đầu.

"Để lâu quá rồi. Nút đã ăn vào thịt. Bây giờ đốt thư thôi chưa đủ. Nút hai người buộc thì phải hai người cởi. Phải có tay người kia."

"Bà ấy không đến đâu," bà Ỏn nói, mặt vẫn áp xuống sàn. "Tôi mà là bà ấy, tôi không đến."

Tôi mở cuốn sổ phát thư, lật ra mặt sau, chỗ có cái địa chỉ tôi chép bằng tay trái. Tôi nói cháu đi.

Ông Khiêm nhìn tôi lâu. Ông nói phải trước rằm tháng Bảy. Qua rằm, cửa âm mở, vía ông Thìn sẽ đi theo những vía khác, mà đi thì kéo bà Ỏn theo.

Đêm ấy chúng tôi đốt cái thư tháng Bảy. Bà Ỏn tự tay đưa nó vào bếp. Tờ giấy bản cháy xanh, hai sợi chỉ rời nhau trong lửa, cháy thành hai sợi tro thẳng tắp. Bà Ỏn thở ra một hơi dài.

Dưới gầm sàn, con gà không ai nuôi gáy một tiếng. Lần này nó gáy trọn, không gãy. Như một người vừa được nới dây ở cổ.