☾ Truyện Ma Có Thật
← Thùng nước đầy mỗi sáng

Chương 1: Bếp trường trên dốc

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi lên Tả Pú Chản nấu cơm cho học sinh bán trú vào giữa tháng Mười một năm 2018. Tôi là Lường Thị Xiên, năm đó bốn mươi lăm tuổi. Chồng tôi mất được ba năm, con trai đi làm công ty giày ở Bình Dương, con gái lấy chồng bên Mường Kim. Ở nhà dưới Than Uyên chỉ còn tôi với con lợn nái. Bán lợn đi, tôi nhận lời bà chị họ ở phòng giáo dục, lên Sìn Hồ thay một cấp dưỡng vừa bỏ ngang.

Thầy hiệu trưởng tên Lực, người Thái Bình, đón tôi ở ngã ba rồi chở xe máy thêm mười hai cây số đường đất. Đến trường thì trời vừa tắt nắng, sương dưới thung đùn lên trắng xoá.

Trường Tiểu học bán trú Tả Pú Chản nằm trên một lưng đồi xẻ bằng, có bốn phòng học, một dãy nhà ở cho học sinh, một nhà công vụ cho giáo viên. Học sinh là con các bản người Mông quanh đó. Năm ấy có bốn mươi tám đứa ăn ngủ lại trường, gầy, má đỏ nẻ, mũi lúc nào cũng thò lò.

Bếp ăn là một gian nhà gỗ lợp tôn ở cuối sân, sát mép dốc. Trong bếp có hai cái chảo gang to bằng cái nong, một bếp củi đắp đất, một cái chạn bát bằng gỗ pơ mu đã đen bóng. Góc trong cùng đặt ba thùng phuy nhựa xanh, loại hai trăm lít, nắp đậy bằng tấm tôn cắt. Nước dẫn từ khe về bằng một đường ống nhựa đen, chạy dọc lối mòn, đổ vào phuy đầu tiên qua một cái van đồng.

Trên xà ngang, ngay trên mấy thùng phuy, có treo một đôi thùng gỗ cũ với cây đòn gánh. Thùng đóng bằng ván sa mu, đai hai vòng mây. Đòn gánh bằng tre bương, hai đầu có mấu chặn, chỗ giữa mòn nhẵn thành một vệt bóng. Tất cả phủ bụi, mạng nhện giăng từ quai thùng lên xà. Tôi đoán đã lâu lắm không ai dùng.

Người giúp tôi việc bếp những ngày đầu là cô Hiền, giáo viên lớp một, người Thái Tuần Giáo. Cô chỉ cho tôi chỗ để gạo, chỗ để muối, chỗ để mỡ, cái sổ ghi xuất kho. Tôi chỉ lên đôi thùng gỗ, hỏi có cần hạ xuống lau cho sạch không.

"Thôi chị ạ. Cứ để đấy."

Cô nói nhanh rồi quay đi lấy rổ. Tôi tưởng cô ngại bụi. Tôi cũng không hỏi thêm.

Việc của cấp dưỡng không nặng nhưng dài. Bốn giờ rưỡi dậy nhóm bếp, sáu rưỡi cho học sinh ăn sáng, rồi bữa trưa, bữa chiều. Thức ăn tính theo đầu suất, mỗi đứa mỗi bữa vài nghìn đồng. Mỡ nhiều thì ít rau, rau nhiều thì ít thịt.

Đêm đầu tiên tôi ngủ trong gian buồng nhỏ ngăn ngay sau bếp. Cô Hiền bảo cấp dưỡng nào cũng ngủ ở đó, cho gần bếp, sáng dậy cho kịp. Trước khi đi ngủ, tôi mở van cho nước chảy vào phuy. Nước yếu, chảy ri rỉ, tiếng tong tong rơi xuống đáy nhựa. Tôi đo bằng mắt, đến lúc tôi khoá van đi nằm thì ba thùng phuy mới lưng lửng.

Gần sáng tôi tỉnh vì lạnh. Cái lạnh trên này không đến từ gió mà từ dưới đất, xuyên qua tấm phản, ngấm vào xương sống. Ngoài kia không có tiếng gì cả. Con chó vàng của trường, con mà học sinh gọi là Pò, hồi tối còn nằm rên ư ử dưới gầm chạn, giờ im bặt.

Tôi nằm nghe một lúc thì ngửi thấy một mùi. Mùi rêu ướt, mùi đá ẩm, cái mùi của khe nước lúc mới tờ mờ sáng. Mùi ấy bò vào buồng qua khe ván, lạnh và tanh nhẹ. Rồi từ phía bếp có tiếng nước đổ. Tiếng ào một cái, nặng, như có người dốc cả một thùng nước vào phuy.

Tôi ngồi dậy, quờ cái đèn pin. Tôi nghĩ chắc ông bảo vệ dậy sớm giúp. Tôi đẩy cửa buồng ra bếp. Trong bếp tối om, chỉ có mấy hòn than trong lò còn đỏ lờ mờ. Tôi rọi đèn quanh một vòng. Không có ai.

Ba thùng phuy nước đầy. Đầy tới miệng, mặt nước còn đang sóng sánh, đập vào thành nhựa từng đợt nhỏ. Cái van đồng vẫn khoá, đúng như tôi khoá lúc tối. Dưới chân phuy đầu tiên, nước tràn ra một vệt dài, chảy về phía cửa bếp.

Tôi đứng đó không biết bao lâu. Con Pò bò ra khỏi gầm chạn, đi ngang qua tôi, không vẫy đuôi, đến bên vệt nước thì cúi xuống ngửi. Rồi nó nằm xuống, gác cằm lên hai chân trước, nhìn ra cửa.

Sáng hôm đó tôi hỏi ông Páo, người bảo vệ trường. Ông là người Mông, ngoài sáu mươi, ở ngay bản dưới, tối nào cũng lên ngủ ở cái lán cạnh cổng. Tôi hỏi có phải đêm qua ông xách nước đổ vào phuy cho tôi không. Ông nhìn tôi, rồi nhìn về phía bếp, rít một hơi thuốc lá cuộn.

"Không phải. Ống nước nó chảy đầy đấy."

"Tôi khoá van rồi mà ông."

Ông Páo không trả lời. Ông dụi điếu thuốc vào cột cổng, khoác cái áo bông bộ đội cũ lên vai, đi xuống dốc về nhà. Tôi đứng nhìn theo, rồi quay lại bếp.

Tôi tự bảo mình chắc van đồng cũ, khoá không chặt. Nước rỉ cả đêm thì đầy. Tôi nhấc nắp phuy lên xem. Nước trong, lạnh buốt, có mấy cái lá vàng nhỏ xíu nổi lên. Không phải lá sa mu quanh bếp. Là lá vàng của cây sau sau, loại chỉ mọc dưới khe.

Ngày thứ ba tôi ở trường, rét đậm về. Gió mùa thổi suốt đêm, mái tôn kêu răng rắc. Sáng ra cỏ quanh sân trắng sương muối, vũng nước trên lối mòn đóng thành một lớp kính mỏng. Thầy Lực đi một vòng quanh trường, gõ vào đường ống, lắc đầu.

"Ống đóng băng rồi chị ạ. Mấy hôm nữa mới thông."

Trưa hôm ấy tôi mở van đồng. Không một giọt nào chảy ra.

Đêm hôm ấy tôi không ngủ được. Tôi nằm trong buồng, mở mắt nhìn vào bóng tối, chờ. Rồi con Pò lại im. Rồi cái mùi khe nước lại bò vào. Và từ xa, phía lối mòn dưới dốc, có một tiếng kẽo kẹt rất khẽ, đều, lại gần dần.