Chương 2: Ống nước đóng băng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi không ra. Tôi nằm nghe cái tiếng kẽo kẹt ấy leo lên dốc, chậm, mỗi bước một nhịp, giống tiếng đòn gánh tre oằn xuống rồi bật lên trên vai người gánh nặng. Nó đi qua sân. Nó dừng ở cửa bếp. Rồi tiếng nước đổ, ào một cái, rồi ào cái nữa.
Rồi im. Một lúc sau con Pò rên ư ử trở lại, cái rên của con chó già bị lạnh. Mùi khe nước nhạt dần. Tôi nằm cứng người đến khi chuông báo thức trong cái điện thoại cục gạch kêu bốn giờ rưỡi.
Ba thùng phuy lại đầy. Lần này trên mặt nước có một lớp váng băng mỏng như giấy bóng kính, tôi lấy ngón tay ấn xuống là vỡ. Đường ống vẫn đóng băng. Cái van đồng lạnh đến mức dính da tay.
Sáng ấy tôi nấu cơm mà tay run. Nước gạo trắng đục, bốc hơi nghi ngút, tôi cứ nhìn vào nồi mà không thấy gì. Học sinh xếp hàng lấy cơm, đứa nào cũng ôm cái bát nhôm méo, đi dép tổ ong không tất. Chúng nó ăn nhanh, cúi đầu, không nói. Chỉ có tiếng thìa nhôm cạo vào đáy bát lách cách.
Ngày hôm đó cả trường thiếu nước. Nhà công vụ của giáo viên có hai cái téc inox đặt trên giá, giờ cạn trơ. Thầy Lực phải cử hai thầy giáo trẻ chạy xe máy xuống bản dưới, mỗi chuyến chở bốn can nhựa hai mươi lít. Đường đóng băng, xe trượt, một thầy ngã trầy cả đầu gối. Nước ấy chỉ đủ cho giáo viên nấu nướng và cho học sinh rửa mặt qua loa.
Bếp tôi thì không thiếu. Ba thùng phuy, sáu trăm lít, đủ nấu ba bữa cho bốn mươi tám đứa trẻ, còn thừa để tráng nồi. Tôi đi ra đi vào, nhìn mấy thùng phuy đầy, không dám nói với ai.
Chiều, cô Hiền xuống bếp mượn một xô nước cho lớp cô lau bảng. Cô mở nắp phuy, nhìn vào, rồi nhìn tôi. Tôi nhìn lại cô. Cả hai không ai nói gì. Cô múc nửa xô, đậy nắp lại cẩn thận, đi ra cửa thì quay lại.
"Chị đừng kể với thầy Lực nhé. Thầy mới lên được hai năm."
"Kể gì hả em?"
Cô Hiền ngập ngừng, đổi xô sang tay kia.
"Thì... chuyện nước ấy. Thầy là người dưới xuôi, thầy không tin đâu. Lại bảo mình mê tín."
Tôi hỏi cô biết gì thì nói cho tôi biết. Cô lắc đầu, bảo cô cũng chỉ nghe người ta nói. Bảo mùa đông nào ống đóng băng thì bếp trường cũng có nước, mấy năm nay rồi. Bảo cấp dưỡng trước tôi là một chị người Kinh dưới Tam Đường, làm đến đầu tháng Mười một thì xin nghỉ, khóc lóc bảo không ở được. Rồi cô đi.
Sáng hôm sau, trời còn tối, tôi cầm đèn pin đi xuống lối mòn dẫn ra khe. Lối ấy men theo sườn đồi, rộng chừng một gang tay, một bên là vách đất đỏ có rễ cây chĩa ra, một bên là dốc thoải xuống rừng sa mu. Đường ống đen nằm lộ trên mép lối, chỗ nào cũng có lớp sương muối bám trắng như rắc bột.
Tôi rọi đèn xuống đất và thấy những vệt nước đóng đá. Không phải vũng, mà là vệt. Từng vệt nhỏ chừng bàn tay, cách nhau chừng một bước chân, khi bên này lối khi bên kia lối. Giống như có người gánh hai thùng nước đầy đi lên, nước sóng sánh ra ngoài miệng thùng, rơi xuống đất rồi đông cứng lại trong đêm.
Tôi đi theo những vệt nước ấy xuống. Lối mòn càng xuống càng dốc, có những đoạn người ta đã đặt đá làm bậc. Gió từ dưới thung thổi ngược lên, cứa vào mặt. Tôi đi khoảng mười lăm phút thì nghe tiếng nước chảy dưới lớp băng. Khe nước ở đó, một cái khe hẹp giữa hai tảng đá rêu, nước đọng thành một vũng nhỏ trước khi chảy tiếp xuống rừng.
Mép vũng đã đóng băng một vòng dày. Ở giữa vũng, băng bị phá thành một lỗ tròn, rộng vừa đủ để nhúng một cái thùng. Mép lỗ còn sắc, nước bên dưới đen và trong. Tôi rọi đèn quanh. Không có dấu vết của cái gì dùng để đục băng, không có rìu, không có gậy. Chỉ có cái lỗ.
Rừng sa mu im lặng. Rồi từ trên lối mòn, chỗ tôi vừa đi xuống, có một tiếng gì như tiếng tre cọ vào nhau. Tôi quay lại rọi đèn lên. Lối mòn vắng tanh, chỉ có những vệt nước đóng đá loang loáng dưới ánh đèn.
Tôi đi về, đi nhanh, có đoạn gần như chạy. Khi tôi lên tới sân trường thì trời đã rạng. Ông Páo đang đứng ở cổng, nhìn tôi từ dưới đi lên. Ông không hỏi tôi đi đâu. Ông chỉ nói:
"Đừng xuống đấy lúc tối. Đường trơn."
Rồi ông quay vào lán.
Bữa sáng hôm đó tôi nấu cháo, vì gạo nấu cơm thì phải vo, mà tôi bỗng tiếc từng gáo nước. Cháo nấu với mỡ, hành và một ít thịt băm. Học sinh xếp hàng, tôi múc cho từng đứa. Đến lượt một đứa con gái nhỏ, đầu tóc bù xù, mặc cái áo khoác hồng rộng quá khổ phải xắn tay lên ba lần.
Nó tên là Mùa Thị Dua, học lớp một của cô Hiền, sáu tuổi, nhà ở bản xa nhất. Con bé cầm bát cháo nhưng không đi về chỗ ngồi. Nó đứng đó, nhìn qua vai tôi, nhìn về phía cửa bếp. Tôi hỏi nó nhìn gì.
"Bác gánh nước đứng đấy."
Tôi quay lại. Cửa bếp mở, ngoài sân sương trắng đục, chỗ cột cờ chỉ thấy lờ mờ. Không có ai.
"Bác nào hả con?"
Dua nghiêng đầu, nhìn tôi như nhìn một người không hiểu chuyện.
"Bác gánh nước. Bác nhìn ăn. Sáng nào cũng nhìn."
Mấy đứa đứng sau nó gật đầu. Một thằng bé, Giàng A Lử, cũng lớp một, nói chen vào bằng giọng lơ lớ:
"Bác không vào. Bác đứng ngoài thôi."
Rồi chúng nó bưng bát đi về chỗ ngồi, ăn như không có gì. Tôi đứng cầm cái muôi, nước cháo nhỏ từng giọt xuống mũi dép. Ngoài cửa bếp, sương vẫn trắng đục. Và trên nền đất trước cửa, chỗ tôi vừa quét lúc sáng, có một vệt nước mới, chưa kịp đóng đá.