☾ Truyện Ma Có Thật
← Thùng nước đầy mỗi sáng

Chương 9: Đường ống chôn sâu

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Đêm ấy tôi không đi ngủ. Ba giờ sáng tôi đã thức, nhóm lửa trong bếp, rồi bắc ghế trèo lên hạ đôi thùng gỗ với cây đòn gánh xuống. Bụi rơi lả tả vào tóc. Thùng nhẹ hơn tôi tưởng, ván sa mu đã khô xốp, nhưng hai vòng đai mây vẫn chắc. Tôi lấy giẻ lau sạch, kiểm tra từng kẽ ván.

Ông Páo đã đứng chờ ở đầu lối mòn, cầm một cái đèn pin và một túi tro bếp. Ông không hỏi tôi định làm gì. Đêm qua tôi chỉ nói với ông một câu, ông gật đầu rồi về lán.

Ba thùng phuy trong bếp, theo lệ, đã được đổ bốn chuyến nước. Tôi nghe rõ bốn lượt kẽo kẹt lúc gần sáng, nghe tiếng thở nặng nhọc ngoài cửa. Rồi tiếng ấy đi xuống dốc lần thứ năm, và không lên nữa.

Tôi khoác đòn gánh lên vai. Ông Páo đi trước, vừa đi vừa rắc tro lên những chỗ băng trơn. Lối mòn tối đen, đèn pin chỉ soi được một khoảng nhỏ trước chân. Gió từ thung lũng thổi ngược lên buốt như dao. Tôi bước từng bước, đếm từng bước, hai cái thùng rỗng đung đưa hai đầu đòn.

Đến khúc quanh đá tảng, ông Páo dừng lại, rắc tro thật dày. Tôi bám tay vào vách đá đi qua. Dưới chân tôi, chỗ sát mép vực, đống đá nhỏ của ông Páo trắng lờ mờ trong ánh đèn.

Xuống tới khe, lỗ băng giữa vũng vẫn ở đó, mép còn sắc. Tôi nhúng thùng xuống, múc đầy, nhấc lên. Nước lạnh tới mức tay tôi đau như bị kim châm. Tôi đặt đòn gánh lên vai, đứng thẳng dậy. Hai thùng nước nặng trĩu, đòn gánh oằn xuống, kêu kẽo kẹt.

Tôi đi lên. Leo dốc với gánh nước đầy khác hẳn đi xuống tay không. Đến lưng chừng dốc thì gối tôi bắt đầu run. Hơi thở tôi đứt quãng, phả khói trắng. Đến khúc quanh đá tảng, tôi phải dừng lại thở. Chân trái tôi đặt lên lớp tro ông Páo rắc, chân phải đặt vào chỗ băng mà tro chưa phủ tới.

Chân phải tôi trượt.

Tôi nghiêng về phía vực. Thùng nước bên phải tuột ra ngoài mép lối. Tôi thấy đèn pin của ông Páo quét loang loáng, nghe ông hét một tiếng Mông. Rồi đầu đòn gánh bên phải bỗng nhẹ bẫng, như có ai đỡ lấy từ phía dưới. Cái thùng lắc một cái rồi trở về sát vách đá. Tôi đứng vững lại. Trên đầu đòn gánh bên phải, chỗ quai thùng móc vào mấu chặn, tôi thấy một vệt sương muối trắng bám vào, hình mấy ngón tay.

Ông Páo đứng sững, đèn pin chĩa vào đầu đòn gánh. Một lúc sau ông mới cúi xuống rắc tro tiếp.

Tôi gánh chuyến thứ năm lên tới bếp, đổ vào phuy. Rồi tôi gánh chuyến thứ sáu. Chuyến thứ sáu không ai đỡ, nhưng tôi không trượt.

Khi tôi đặt hai thùng gỗ xuống nền bếp lần cuối thì trời vừa rạng. Tôi vo gạo, bắc nồi. Tôi đập vào nồi cháo bốn mươi tám quả trứng mua của mấy nhà trong bản từ chiều hôm trước, khuấy đều, nêm muối, rắc hành. Mùi cháo trứng bốc lên khắp bếp, lan ra sân. Học sinh xếp hàng. Lần đầu tiên tôi thấy chúng nó vừa xếp hàng vừa cười.

Dua lấy bát đầu tiên. Con bé không đi về chỗ ngồi ngay. Nó đứng ở cửa bếp, nhìn ra sân một lúc, rồi giơ tay vẫy, rất nhỏ. Tôi nhìn theo tay nó. Ngoài sân sương đã tan. Không có ai.

"Bác đi rồi."

Dua nói, rồi ngồi xuống ăn.

Đêm hôm ấy không có tiếng kẽo kẹt. Sáng ra ba thùng phuy chỉ còn lưng lửng, đúng chỗ tôi để lại. Từ hôm ấy cho đến khi ống thông, tôi cùng mấy thầy giáo trẻ thay nhau gánh nước từ khe lên, ngày mấy chuyến.

Sau Tết, tôi mang cuốn sổ gạo muối lên gặp thầy Lực, kể hết. Thầy nghe, không cười tôi mê tín như cô Hiền lo. Thầy chỉ hỏi ông Páo có đúng thế không, rồi ngồi lật cuốn sổ rất lâu. Tháng Ba năm 2019, thầy họp phụ huynh. Mỗi nhà trong ba bản góp năm mươi nghìn và hai ngày công. Thầy xin thêm của huyện được hai trăm mét ống.

Người ta đào rãnh sâu sáu mươi phân từ khe về tận bếp, chôn ống dưới đất, chỗ băng không với tới. Đến khúc quanh đá tảng, đàn ông trong bản đục vào vách đá thành một cái máng, đặt ống vào, đổ xi măng phủ kín. Ông Páo làm ở đó suốt ba ngày, không cho ai thay.

Hôm nước đầu tiên chảy về bếp qua đường ống mới, chúng tôi làm lễ ở đầu lối mòn. Tôi cúng theo lối Thái, có xôi, cá nướng, một bát cháo trứng. Ông Páo rót rượu ngô, đặt hòn đá cuối cùng lên đống đá dưới khúc quanh. Học sinh đứng xem. Tôi khấn mời bà Ỏi về Than Uyên, về với ông, bếp ở đây đã có người lo.

Trước khi về, tôi viết thêm một dòng vào cuốn sổ gạo muối, ngay dưới chữ ký run run của bà: "Ống đã chôn sâu. Cháo trứng đã nấu. Bà nghỉ đi. Xiên."

Mùa đông năm ấy, rồi mấy mùa đông sau, ống không đóng băng nữa. Ba thùng phuy chỉ đầy khi tôi mở van.

Tôi không về Than Uyên. Tôi nấu ở bếp trường Tả Pú Chản đến giờ đã tám mùa đông. Thầy Lực chuyển về huyện năm 2021. Cô Hiền lấy chồng, xin về trường xã. Ông Páo mất mùa xuân năm 2023, con cháu chôn ông ở sườn đồi nhìn ra lối mòn. Dua giờ học lớp tám trường nội trú huyện, mỗi lần về bản đều ghé qua bếp chào tôi. Thằng Lử thì đã cao hơn tôi một cái đầu.

Đôi thùng gỗ sa mu với cây đòn gánh tôi treo lại lên xà, ngay trên ba thùng phuy, lau bụi mỗi tháng một lần. Phần lớn các buổi sáng chúng khô. Nhưng thỉnh thoảng, những sáng có sương muối, tôi xuống bếp nhóm lửa và thấy ván sa mu sẫm màu, ướt đều từ đáy lên miệng. Dưới đáy thùng có một giọt nước đọng, chưa rơi.

Những sáng ấy tôi nấu cháo, và đập thêm một quả trứng.