Chương 8: Chuyến nước cuối
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Ông Páo kể cho tôi nghe ngay ở chỗ khúc quanh ấy, ngồi trên rễ cây sa mu, mặt quay về phía vực. Ông kể bằng thứ tiếng Kinh lơ lớ của ông, có chỗ ông phải dừng lại tìm chữ, có chỗ ông nói một câu tiếng Mông rồi mới nói lại. Tôi ghi lại đây theo cách tôi nhớ.
Bà Ỏi lên Tả Pú Chản năm 2001, hồi trường còn là ba gian nhà tranh vách nứa. Bà người Thái ở Than Uyên, chồng mất sớm, không có con. Người ta bảo bà lên đây vì ở dưới không còn ai. Bà nấu cho học sinh bán trú bảy năm, ăn ngủ trong cái buồng sau bếp, đúng cái buồng tôi đang ngủ. Học sinh gọi bà là "bác gánh nước", vì ngày ấy chưa có đường ống, mọi giọt nước trong bếp đều do bà gánh từ khe lên bằng đôi thùng gỗ sa mu.
Năm 2006, huyện cấp tiền làm đường ống. Bà Ỏi mừng lắm. Nhưng bà vẫn giữ đôi thùng với cây đòn gánh, treo ở góc bếp. Mùa đông nào ống đóng băng, bà lại gánh.
Tháng Chạp năm 2008 rét hại. Ông Páo bảo ông sống ở đây sáu mươi năm, chưa thấy năm nào rét như năm ấy. Băng đóng dày trên lối mòn, trâu bò trong bản chết cóng mấy con. Ống nước đóng băng từ đầu tháng. Bà Ỏi gánh nước từ khe lên mỗi ngày, bốn chuyến, năm chuyến, sáu chuyến. Gối bà sưng lên, đêm nào cũng xoa dầu.
Chiều mười bảy tháng Chạp, ống vỡ ở chỗ tảng đá. Bà Ỏi đi tìm ông Páo, nhờ ông xuống buộc lại, để khi băng tan thì nước chảy về được. Hôm ấy trong bản có đám cưới. Ông Páo đã uống rượu từ trưa. Ông bảo để mai.
"Bà ấy bảo, mai thì bà ấy gánh. Tôi bảo ừ."
Ông Páo dừng lại, nhìn đôi giày vải của mình.
Chiều hôm ấy trong trường có một đứa trẻ ốm, cháu Sính lớp hai, sốt cao. Bà Ỏi nấu cháo cho nó, ngồi với nó đến khuya. Trước khi về buồng ngủ, bà hứa với nó sáng mai bà nấu cháo trứng cho cả trường, vì trong kho còn một rổ trứng bà mua bằng tiền nhà.
Muốn nấu cháo cho bốn mươi đứa trẻ, cần sáu chuyến nước.
Bà dậy lúc trời còn tối đen, không ai biết mấy giờ. Bà gánh chuyến đầu. Chuyến thứ hai. Chuyến thứ ba. Chuyến thứ tư. Mỗi chuyến bà đổ vào phuy, rồi lại xuống. Ông Páo nằm trong lán cạnh cổng, say rượu, nghe tiếng đòn gánh kẽo kẹt đi qua mà không dậy.
Chuyến thứ năm, bà không lên.
Sáng ra, học sinh dậy, bếp lạnh tanh. Thầy hiệu trưởng hồi ấy đi tìm, đến gần trưa ông Páo mới thấy bà dưới vực, đúng chỗ khúc quanh. Bà nằm sấp giữa đá, cây đòn gánh vẫn kẹp chặt dưới nách. Một cái thùng gỗ văng mắc vào bụi cây, còn nguyên. Cái thùng kia đứng thẳng giữa hai hòn đá như có người đặt, nước trong thùng đã đông cứng thành một khối băng.
Ông Páo cõng bà lên. Rồi ông quay xuống, lấy đôi thùng, lấy cây đòn gánh mang lên. Ông đặt cái thùng nước đông cứng bên bếp lửa cho tan, rồi đổ vào phuy.
"Chiều hôm đấy bọn trẻ có cơm ăn. Nấu bằng nước bà ấy gánh."
Ông Páo nói, giọng nghẹn lại.
Thầy hiệu trưởng hồi ấy báo lên huyện là tai nạn. Người nhà bà Ỏi dưới Than Uyên chỉ còn một ông cháu họ xa, lên đưa bà về, không hỏi han gì. Đôi thùng gỗ và cây đòn gánh thì ông Páo treo lên xà bếp. Ông bảo ông không dám vứt đi, cũng không dám mang về nhà.
Mùa đông năm sau, sáng đầu tiên ống đóng băng, ba thùng phuy đầy nước.
Tôi ngồi nghe, hai tay ôm chặt cuốn sổ gạo muối trong túi áo. Tôi nhớ đến đêm tôi ngồi sau chạn bát, đếm những lượt kẽo kẹt lên xuống. Tôi đã đếm được bốn lượt. Lượt thứ tư, tiếng thở ngoài cửa nặng hơn, đứt quãng. Rồi im. Không có lượt thứ năm.
"Đêm nào cũng bốn chuyến phải không ông."
Ông Páo gật. Ông bảo mười năm nay ông nằm trong lán, đêm nào ống đóng băng cũng nghe tiếng đòn gánh. Bốn lượt lên. Lượt thứ năm thì nghe xuống, mà không bao giờ nghe lên. Sáng ra phuy đầy, đầy như sáu chuyến, nhưng tiếng thì chỉ có bốn.
"Bà ấy chưa gánh xong. Chưa nấu được nồi cháo."
Tôi nhớ đến cây đòn gánh nằm vắt ngang miệng phuy, chỗ mòn ở giữa còn ấm như hơi vai người. Tôi nhớ câu bà nói với tôi ở hiên dãy nhà ở. Sáng ra nấu cháo riêng cho nó, cho thêm quả trứng. Cái nồi cháo trứng bà hứa với cháu Sính mười năm trước.
Bà không đứng ngoài cửa bếp để doạ ai. Bà đứng đó chờ. Chờ một người nấu được nồi cháo bà chưa nấu. Bà xem người ấy có thương bọn trẻ không, rồi mới dám đặt gánh xuống.
Ông Páo đứng dậy trước. Ông nhìn xuống vực một lần nữa, rồi quay lại nhìn tôi, nói bằng giọng như van.
"Bà ấy nói với chị. Mười năm bà ấy không nói với ai. Chị làm gì cho bà ấy được thì chị làm."
Chúng tôi đi về. Lên đến sân thì trời đã trưa, học sinh đang xếp hàng trước cửa bếp chờ cơm. Dua đứng đầu hàng, mặt còn xanh, khoác cái áo hồng xắn tay ba lần. Con bé nhìn thấy tôi thì chạy lại, níu vạt áo bông.
"Bác gánh nước hỏi bác."
"Hỏi gì hả con?"
Dua ngước lên nhìn tôi, đôi mắt đen láy, nghiêm trang như người lớn.
"Bác hỏi bao giờ thì xong."