☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng dép trên tầng ba

Chương 1: Dãy trọ chưa tô

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Tháng Tám năm 2014, tôi lên năm hai ngành xây dựng ở trường Sư phạm Kỹ thuật trên đường Võ Văn Ngân. Năm nhất tôi ở ghép với ba đứa đồng hương Quảng Ngãi trong một phòng trọ mười hai mét vuông ở Bình Thọ. Tới hè thì một đứa nghỉ học về quê, một đứa có bồ, nhóm tan. Tôi phải tìm chỗ khác, càng rẻ càng tốt, vì tiền ba má gửi lên mỗi tháng chỉ đủ ăn cơm hai bữa.

Tôi tìm được dãy trọ ấy qua một tờ giấy dán trên cột điện gần khu chế xuất Linh Trung. Tờ giấy viết tay bằng bút lông, mực xanh đã phai: "Cho thuê phòng sinh viên, giá rẻ, có gác, điện nước nhà nước". Phía dưới có số điện thoại bàn, và một dòng nhỏ hơn: "Không nhận người đi làm ca đêm".

* * *

Dãy trọ nằm cuối một con hẻm đất đỏ ở phường Linh Trung. Hẻm vừa một chiếc xe máy, hai bên là tường rào nhà dân, cây mít, cây ổi chìa cành ra. Đi hết hẻm thì thấy nó, một khối nhà xám đứng một mình giữa khoảnh đất trống mọc cỏ tranh.

Nó có hai tầng xây xong, mỗi tầng bốn phòng, hành lang chạy dọc phía trước, lan can sắt sơn chống rỉ màu đỏ cam. Tường phía ngoài chưa tô, trơ gạch ống với những mạch vữa xám lem nhem. Phía trên tầng hai là sàn tầng ba đã đổ bê tông, nhưng không có tường, không có mái. Chỉ có mấy cây cột vuông đứng lơ thơ, đầu cột lòi ra những cây thép chờ đã gỉ, cong queo như tay người giơ lên trời.

Bà chủ tên Hạnh, người ta gọi cô Hạnh, chừng năm mươi tuổi, ốm, tóc búi, mặc bộ đồ bộ hoa nâu. Cô dẫn tôi lên phòng sáu, phòng cuối dãy tầng hai. Phòng rộng mười sáu mét vuông, có gác lửng bằng ván ép, nhà vệ sinh trong phòng, một cái giường sắt sơn xanh đã tróc. Giá tám trăm nghìn một tháng.

Tôi hỏi sao rẻ vậy cô. Cô nói nhà chưa xây xong, người ta chê. Tôi nhìn lên tầng ba trơ trọi, thấy cũng phải.

Cầu thang lên tầng hai nằm ở đầu hồi, ngay sát phòng sáu. Bậc cuối của nó chạm hành lang tầng hai, nhưng cầu thang không dừng ở đó. Nó còn ba bậc nữa, đổ bê tông xù xì, lòi cả đá mi, rồi cụt ngang trong không khí. Phía trên ba bậc ấy là cái ô trống thông lên sàn tầng ba. Người ta lấy một tấm tôn kẽm cũ, đóng đinh vào hai thanh gỗ, chắn ngang ô trống.

Tôi học xây dựng, tôi biết ba bậc đó gọi là bậc chờ. Người ta đổ sẵn để sau này nối tiếp cầu thang lên tầng trên. Có điều tôi chưa thấy ai bỏ dở bậc chờ lâu tới mức rêu đã mọc trong kẽ đá.

* * *

Lúc đưa chìa khoá, cô Hạnh dặn tôi ba chuyện.

"Mười giờ rưỡi cô khoá cổng. Về trễ thì ngủ ngoài. Cô không dậy mở đâu."

Chuyện thứ hai là không nấu ăn bằng bếp than trong phòng. Tôi gật đầu. Chuyện thứ ba thì cô nói chậm hơn, mắt không nhìn tôi mà nhìn ba bậc chờ.

"Mười một giờ là ở yên trong phòng. Đừng ra hành lang. Ai gõ cửa cũng đừng mở. Con nhớ chưa?"

Tôi hỏi, lỡ có người cần gì thì sao cô. Cô nói, ở đây ai cũng biết luật, không ai gõ cửa ai lúc mười một giờ hết. Có ai gõ thì đó không phải người trong dãy.

Tôi tưởng cô sợ trộm. Thủ Đức năm đó trộm xe máy nhiều, tôi nghe kể hoài.

* * *

Chiều hôm ấy tôi chở đồ bằng xe đạp từ Bình Thọ qua, ba chuyến. Một thùng mì gói, một cái quạt bàn, chăn mùng, mấy cuốn giáo trình sức bền vật liệu. Tối tôi ra chợ Thủ Đức mua thêm đôi dép lê nhựa màu xanh lá, mười lăm nghìn. Đi tới đầu hẻm thì quai trái đứt. Tôi về lấy cây kim băng ghim lại, đi thì kêu lệt xệt, nhưng vẫn đi được.

Dãy trọ lúc đó có năm phòng có người. Phòng hai là vợ chồng công nhân khu chế xuất, anh Sơn chị Mến, có đứa con gái nhỏ gửi ở quê. Phòng năm sát vách tôi là Tuấn, sinh viên năm tư trường Nông Lâm, người Bến Tre. Ba phòng kia tôi chưa gặp. Mười giờ rưỡi, cô Hạnh khoá cổng. Tiếng ổ khoá sắt rơi vào móc nghe rất rõ.

Tôi để dép ngoài cửa, mũi dép quay vô phòng, như thói quen ở quê. Tôi nằm trên giường sắt đọc giáo trình, quạt bàn quay qua quay lại.

Gần khuya, con dế kêu ri ri dưới bụi cỏ tranh sau dãy tự nhiên im bặt. Quạt bàn vẫn quay mà gáy tôi lạnh. Rồi tôi nghe tiếng dép lê.

Lệt. Xệt. Lệt. Xệt.

Tiếng dép đi lên cầu thang từ dưới tầng một. Chậm, đều, kiểu người lớn tuổi mang dép rộng. Tôi nghĩ là Tuấn hay ai đó đi vệ sinh. Nhưng phòng nào cũng có nhà vệ sinh riêng.

Tiếng dép lên tới tầng hai. Nó không rẽ ra hành lang. Nó đi tiếp.

Một bậc. Hai bậc. Ba bậc.

Tôi nín thở. Ba bậc chờ, rồi tới tấm tôn. Tôi đợi tiếng ai đó đẩy tấm tôn, tiếng kẽm cạ vào bê tông. Không có. Tiếng dép cứ đi tiếp lên, bậc thứ tư, bậc thứ năm, như cái cầu thang vẫn còn đó, chỉ là tôi không thấy.

Rồi nó đi trên đầu tôi. Trên sàn tầng ba, ngay trên trần phòng sáu. Lệt xệt, lệt xệt, đi qua đi lại, có lúc dừng rất lâu, rồi lại đi. Bụi vữa rơi lả tả từ trần xuống mặt giáo trình, nghe lắc rắc như rắc muối.

Không biết bao lâu sau thì tiếng dép tắt. Không đi xuống. Chỉ tắt. Ngoài bãi cỏ, con dế kêu lại.

Tôi không biết mình ngủ lúc nào.

* * *

Sáng ra tôi mở cửa đi học. Đôi dép xanh nằm ngoài hành lang, mũi quay ra cầu thang, ngược với lúc tôi cởi. Tôi đứng nhìn một lúc, rồi nghĩ chắc tối qua mình mệt, nhớ lộn.

Tôi xỏ dép, đi ngang ba bậc chờ. Trên tấm tôn kẽm chắn ô cầu thang, chỗ ngang tầm mắt tôi, có một vệt bụi xi măng trắng. Nó là hình nửa bàn chân, phần mũi và mấy ngón, in rõ trên lớp kẽm xám.

Mũi chân hướng lên trên.