Chương 4: Sách hệ mười năm
Khoảng 5 phút đọc·10lượt xem
Tôi nói được. Tôi đọc câu ấy cho ông nghe. Bài vẫn học cho xong.
Ông Cẩn không nói gì một lúc lâu. Ông rót nước vối ra hai cái bát, đẩy một bát về phía tôi, rồi mới nói.
"Bài ấy tên là Lớp học đêm. Bài học thuộc lòng số mười tám, sách Văn lớp Năm, hệ mười năm, in năm bảy mươi. Cải cách giáo dục năm tám mốt thì bỏ, thay sách mới, không in lại nữa. Trẻ con bây giờ không đứa nào biết. Người lớn thì có người thuộc, nhưng ở làng này không ai đọc to nó lên nữa."
Tôi hỏi vì sao. Ông Cẩn nhìn ra hàng cau. Rồi ông kể, chậm, không bỏ sót, cũng không thêm.
* * *
Trường cấp một cấp hai Yên Khê hồi ấy là mấy gian nhà tranh vách đất, dựng năm năm tư, đúng chỗ cái trường bây giờ. Cây bàng trồng năm ấy. Năm bảy hai máy bay đánh ga Yên Viên suốt, ban ngày không học được, hễ kẻng báo động là cả trường chạy xuống hầm. Xã quyết định cho các lớp lớn học tối, từ bảy giờ đến chín giờ, mỗi đứa một cái đèn dầu có ống bơ che ba phía, đội mũ rơm đi học. Cạnh mỗi lớp đào hầm chữ A, riêng lớp 5A ở gian cuối, sát gốc bàng, có cái hầm tập thể to nhất, đào sâu, chống gỗ, chứa được cả lớp.
Đêm hai mươi mốt tháng Mười Hai, bê năm hai vào đánh ga. Bom rải thảm trượt khỏi đường ray, một vệt rơi chéo qua đồng, qua xóm Bãi, vào sân trường. Lớp 5A đang học, vừa kịp xuống hầm. Một quả rơi gần miệng hầm. Đất lở, gỗ chống gãy, hầm sập.
"Hai mươi ba đứa trẻ. Và cô giáo."
Ông Cẩn nói đến đó rồi uống một ngụm nước. Tay ông cầm bát không run, nhưng ông cầm bằng cả hai tay.
Làng đào ba ngày ba đêm. Đất bãi mùa đông ướt, lở liên tục, quanh đó còn bom nổ chậm chưa rà. Đào được chín đứa thì không dám đào nữa. Người ta lấp lại, đắp một nấm chung to ngang cái nhà, trồng tre xung quanh, lập bát hương ở gốc bàng. Trường dời về xóm Đình. Từ đó người làng gọi chỗ ấy là nghĩa địa trường, lâu dần gọi tắt là nghĩa địa cũ, rồi thế hệ sau không ai nhớ nghĩa địa của ai nữa.
"Năm chín tám xã được dự án xây trường kiên cố. Đất xã chỉ còn chỗ ấy rộng. Chín ngôi mộ có tên được bốc sang nghĩa địa làng. Còn nấm chung thì không ai dám đào, mà cũng không ai dám bảo là đừng xây. Người ta phạt tre, san nền, làm lễ ba ngày. Dãy B đặt lên trên đó. Lớp 5A đúng chỗ cái hầm."
Tôi hỏi sao không ai nói với giáo viên. Ông Cẩn cười, cái cười không có tiếng.
"Nói thì ai về dạy."
* * *
Tôi hỏi về cô giáo. Ông Cẩn im một lúc rồi nói ngắn.
"Cô giáo trẻ lắm. Không phải người làng, người bên kia sông, mới về trường được hai năm. Chồng đi B. Cô ở nhờ nhà ông từ đình. Hiền, dạy giỏi, trẻ con quý."
Tôi nghe mà ngực nặng một cách vô lý. Bên kia sông thì rộng, cả một huyện. Chồng đi B thì năm ấy làng nào chẳng có. Tôi tự bảo mình thế, và tin ngay, vì tôi muốn tin.
Tôi hỏi tiếp, câu hỏi tôi mang từ đêm trước. Vì sao tiếng đọc ngừng đúng chỗ ấy. Ông Cẩn gật, như chờ câu này.
"Đêm ấy lớp đang đọc đồng thanh bài mười tám, đọc đến câu máy bay qua trên mái thì còi ở ga hú. Cô cho cả lớp xuống hầm. Rồi bom. Bài đọc dở ở đấy. Ba mươi mốt năm nay, đêm nào chúng nó cũng đọc lại từ đầu, và đến đúng chỗ ấy thì ngừng. Chưa bao giờ qua được."
Ông nhìn tôi.
"Người làng nghe quen rồi. Nhà ở gần trường, đêm nào cũng nghe, như nghe tàu qua ga. Không ai làm gì được. Cúng mấy chục năm rồi."
Tôi hỏi vì sao lúc nãy ông hỏi tôi có tự đọc ra câu sau không. Ông Cẩn cầm cái xe điếu lên, xoay xoay, rồi đặt xuống.
"Vì bài ấy không ai dạy anh. Mà anh thuộc."
Ông không nói thêm. Tôi chờ, ông vẫn không nói thêm. Tôi hiểu đó là chỗ ông dừng, như người ta dừng trước một cái cửa không phải cửa nhà mình.
* * *
Tôi hỏi ông còn giữ cuốn sách không. Ông bảo sách của ông cháy cùng với trường đêm ấy, thư viện xã sau cải cách thanh lý hết sách cũ, đem cân giấy vụn. Tôi hỏi còn chỗ nào có thể có. Ông Cẩn nghĩ một lúc rồi nói, không nhìn tôi.
"Sách ấy bây giờ nếu còn thì chỉ còn trong hòm của người chết. Người sống không ai giữ."
Trời đã chạng vạng. Tôi đứng dậy xin phép về. Ông Cẩn tiễn ra tận cổng, điều ông không làm lúc tôi đến. Ở cổng, ông nắm lấy ghi đông xe tôi, giữ một giây.
"Anh về bên kia sông, lục lại đồ cũ trong nhà xem. Rồi hẵng quay lại đây."
Tôi hỏi lục cái gì. Ông buông ghi đông.
"Anh biết cái gì thì anh lục cái ấy."
Tôi đạp xe về theo đường đê. Bên trái là sông, nước mùa cạn lộ bãi, bên phải là làng đã lên đèn. Qua cổng trường, tôi nhìn vào. Dãy B tối. Dưới gốc bàng có một đốm đỏ nhỏ, cháy chậm. Bác Tích đang thắp hương. Bác đứng rất lâu, không khấn, hai tay buông thõng, mặt hướng vào cửa sổ cuối dãy.
Tôi đạp đi, không gọi. Về đến nhà trọ, tôi mở ví, rút tấm ảnh mẹ ra, soi dưới bóng đèn tròn. Cái thân cây sau lưng mẹ, lá bản rộng. Tôi nhìn thật lâu rồi cất vào. Tôi bảo mình, bàng thì làng nào chẳng có.