Chương 5: Cái hòm của bà ngoại
Khoảng 5 phút đọc·10lượt xem
Chủ nhật tôi đạp xe về Hoài Thượng. Qua cầu Đuống, gió sông thổi ngược, tôi phải cúi rạp người. Đến cổng làng thì đã quá trưa.
Nhà bà ngoại giờ cậu Thịnh ở. Cậu là em mẹ tôi, kém mẹ năm tuổi, năm bảy hai đang học trung cấp cơ khí trên Thái Nguyên, về đến nhà thì mọi việc đã xong. Cậu dọn cơm, hỏi chuyện trường mới. Tôi ăn xong mới hỏi cậu có còn giữ đồ của mẹ cháu không.
Cậu Thịnh đặt bát xuống.
"Có cái hòm. Bà bảo của mẹ mày, bao giờ mày hỏi thì đưa. Mày không hỏi nên tao để đấy."
Hơn ba mươi năm tôi không hỏi. Bà không nhắc, tôi không hỏi, hai người sống với nhau như vậy trong một cái nhà ba gian, tránh một cái tên như tránh một chỗ dột.
Cái hòm gỗ gụ nhỏ, cỡ hai gang tay, kê dưới gầm giường trong buồng, phủ một tấm vải phin đã mủn. Khoá đồng đã gỉ, cậu phải lấy kìm cạy. Mùi băng phiến và mùi giấy cũ bốc lên. Bên trong có một cái áo len màu nâu gấp vuông, một cái lược sừng gãy hai răng, một chiếc khăn mùi soa thêu chữ N ở góc. Và hai cuốn sách.
Cuốn thứ nhất bìa mềm, giấy đen xỉn, chữ in nhoè. Văn lớp Năm. Góc bìa đóng dấu đỏ mờ của một nhà xuất bản giáo dục. Cuốn thứ hai bìa cứng bọc giấy xi măng, ngoài bìa viết tay bằng mực tím, chữ nghiêng, nét thanh nét đậm.
Sổ soạn bài. Lớp 5A. Năm học 1972 - 1973.
Số bốn kín đầu. Tôi nhìn cái số bốn ấy rất lâu. Rồi tôi bảo mình, người thời ấy ai chẳng viết số bốn như thế, trường sư phạm dạy cả nước một kiểu. Và lớp 5A thì trường nào cũng có.
* * *
Tôi ngồi ở bậc hiên, mở cuốn Văn lớp Năm. Giấy giòn, lật đến đâu rụng bụi đến đó. Trang ba mươi sáu. Bài mười tám. Lớp học đêm. Học thuộc lòng.
Tôi đọc một mình, không ra tiếng.
Đêm nay em đi học. Mũ rơm đội trên đầu. Đèn dầu che nửa bóng. Đường làng không thấy nhau.
Lớp học đào xuống đất. Bảng treo cạnh cửa hầm. Cô đọc, chúng em đọc. Tiếng nhỏ như tiếng tằm.
Máy bay qua trên mái. Bài vẫn học cho xong. Mai lớn lên xây lại. Trường mới giữa đồng không.
Mười hai câu. Tôi đã nghe chín câu đầu qua bức tường dãy B. Câu thứ mười tôi tự đọc ra trong gian nhà trọ mà không biết từ đâu. Hai câu cuối thì tôi chưa từng nghe, chưa từng đọc. Vậy mà đọc đến đó, hai câu ấy trượt trong đầu tôi như đi trên đường mòn đã quen chân.
Bên lề trang sách có một dòng bút chì, chữ nhỏ, cùng nét với bìa cuốn sổ. Cho cả lớp thuộc trước nghỉ Tết dương.
Tôi mở sổ soạn bài. Từng tuần, từng bài, ghi ngày tháng rõ ràng, mục đích yêu cầu, các bước lên lớp, câu hỏi gợi ý. Chữ đều, không gạch xoá. Tôi lật đến trang cuối có chữ.
Thứ Năm, 21 tháng 12. Bài 18. Lớp học đêm. Cho lớp đọc đồng thanh ba lượt. Học thuộc tại lớp. Dặn dò về nhà.
Sau trang ấy, giấy trắng.
Tôi ngồi với hai cuốn sách đến lúc nắng chuyển màu trên sân gạch. Trong đầu tôi hai thứ cãi nhau. Một bên nói, cả miền Bắc năm ấy dạy một bộ sách, một phân phối chương trình, tuần ấy lớp 5 nào cũng học bài mười tám, giáo viên nào cũng soạn giống nhau. Bên kia không nói gì. Bên kia chỉ là cái lạnh ở hai bàn tay tôi mà trời chưa lạnh đến mức ấy.
Tôi hỏi cậu Thịnh mẹ cháu dạy ở trường nào. Cậu bảo không nhớ, hồi đó cậu đi học xa, bà chỉ nói con Nhàn đi dạy, về nhà cuối tuần. Rồi một hôm bà gọi cậu về, bảo mẹ mày mất rồi, chôn rồi, không được hỏi. Cậu bảo từ đó không hỏi.
Tôi xin cậu hai cuốn sách và tấm khăn. Cậu bảo của mày, mày cầm. Lúc tôi dắt xe ra ngõ, cậu đứng ở cổng gọi với theo:
"Hoàng này. Bà bảo đừng sang bên ấy. Mày sang rồi thì thôi. Nhưng đừng mang cái gì của bên ấy về nhà."
* * *
Tối thứ Hai, thầy Đức tìm tôi, đúng như tôi đoán. Vợ thầy ốm. Tôi nhận trực thay, không nói với cô Lan.
Tôi mang theo cuốn Văn lớp Năm. Tôi không biết mang theo để làm gì. Có lẽ để có cái mà bám vào.
Tôi lại kê ghế ngoài hành lang dãy A. Bác Tích đi ngang, thấy cuốn sách trên đùi tôi, dừng lại. Bác nhìn cái bìa đen xỉn rất lâu. Rồi bác nói, giọng khác hẳn mọi khi, gần như là van.
"Thầy ơi, thầy cất đi."
Tôi hỏi sao. Bác không trả lời, về phòng, nhưng không đóng cửa. Suốt đêm ấy cửa phòng bảo vệ mở, và tôi biết bác cũng không ngủ.
Mười hai giờ kém mười lăm, tiếng đọc bắt đầu. Tôi mở sách ra đùi, không nhìn, vì tối. Tôi chỉ cần nghe. Đêm nay em đi học. Mũ rơm đội trên đầu. Đến câu thứ chín, tôi nín thở.
Máy bay qua trên mái.
Ngừng. Cái hẫng quen thuộc. Tôi thở ra.
Rồi hai mươi mấy cái giọng trẻ con, chậm, như dò từng chữ trên bảng, đọc tiếp.
Bài vẫn học cho xong.
Và ngừng ở đó.
Tôi ngồi chết trên ghế. Ba mươi mốt năm chúng nó dừng ở một chỗ. Đêm nay, đêm cuốn sách quay về cái sân này, chúng nó đọc thêm được một câu.
Sáng hôm sau, góc phải bảng 5A vẫn hai dòng cũ. Sĩ số hai mươi tư, vắng một. Nhưng ở giữa bảng, trên cao, chỗ giáo viên nào cũng ghi đầu bài trước khi dạy, có thêm một dòng mới, cùng nét chữ ấy.
Bài 18. Lớp học đêm.
Thầy Đức đứng nhìn, mặt trắng bệch, không cho học sinh vào. Tôi đứng sau thầy, tay ôm cuốn sách trước ngực, và tôi nhận ra mình đang đứng đúng dáng của người trong tấm ảnh.