☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng gõ phòng bên

Chương 5: Mùi tháng Tám

Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem

Ba ngày nghỉ không lương, tôi ngồi ở chõng chè bà Lựu từ sáng đến tối. Tôi không muốn ở trong phòng. Tôi mua của bà hết bao thuốc lào này đến bao khác, uống chè đến xót ruột. Bà Lựu để tôi ngồi, không đuổi, không hỏi.

Chiều ngày thứ hai, trời đổ mưa phùn đầu mùa, hành lang vắng tanh. Bà Lựu kéo cái chõng sát vào tường cho khỏi ướt, rồi tự nhiên kể. Giọng bà đều đều, như kể chuyện người khác, như kể chuyện đã kể nhiều lần trong đầu mà chưa kể ra miệng.

"Năm ấy hè nóng lắm. Tháng Bảy sang tháng Tám, trưa ra đường nhựa chảy dính dép."

Bà bảo đầu tháng Tám, cả hành lang bắt đầu ngửi thấy mùi. Ban đầu ai cũng tưởng chuột chết trong ống cống, nhà nào cũng đổ nước tẩy xuống rãnh. Rồi ruồi kéo đến. Ruồi xanh, to, bám kín cái khe cửa phòng 47, bám lên cả tường hành lang, đen như ai rắc vừng.

"Cái mùi ấy anh không hình dung được đâu. Ngọt. Ngọt lợ. Ngửi một lần cả đời không quên. Ăn cơm cũng thấy mùi, ngủ cũng thấy mùi."

Tôi nhớ cái mùi ngọt lợ thoảng qua bức tường đêm đầu tiên. Tôi không nói gì.

* * *

Ông Chiến báo phường. Công an khu vực đến, gọi cửa không ai thưa. Cửa khoá, chốt trong cài. Họ phá bằng xà beng. Bà Lựu đứng ở đầu hành lang, lấy khăn bịt mũi, nhưng vẫn nhìn thấy.

Ông Khải nằm trên giường, quay mặt vào tường. Cái tường chung với phòng 46.

Bà bảo người đã trương lên, đen sì, nứt cả da, nước chảy thấm xuống chiếu, xuống nền. Trên sàn cạnh giường có một cái chậu nhôm, nước trong chậu đã cạn, chỉ còn một vòng cặn. Cái quạt cây đứng ở góc, không quay, dây điện cắm ổ mà phòng mất điện từ lâu vì chưa đóng tiền.

Nhà đòn đến ngay chiều hôm ấy. Phường bảo để lâu không được, cả dãy sẽ ốm. Họ không đưa đi đâu cả, khâm liệm ngay tại chỗ. Cuộn người trong chính cái chiếu cói đang nằm, quấn thêm mấy lớp ni lông, rắc vôi bột, cho vào quan tài gỗ tạp. Không ai tắm rửa. Không ai thay áo.

"Áo gì hả bà?"

"Áo bộ đội cũ của ông Khải. Cái áo bạc màu, vá vai, ông vẫn mặc đi chợ. Nhìn cái áo thì ai cũng biết."

Bà Lựu rít thuốc lào. Khói bay ra hành lang, bị mưa phùn đánh tan.

"Mà tôi nhớ một chuyện. Lúc mấy người nhà đòn khiêng cái chiếu ra, đầu thì cuộn kín, nhưng chân thò ra ngoài. Hai bàn chân thò khỏi mép chiếu dài lắm. Ông Khải người còng, đứng chỉ đến vai tôi. Tôi cứ nghĩ, sao nằm xuống lại dài thế."

Bà nói xong tự lắc đầu, bảo người chết trương lên thì chẳng còn ra hình dạng gì. Bà già rồi, nhìn nhầm.

* * *

Tôi hỏi bà ông Khải có hay hát hò gì không.

Bà Lựu bật cười, cái cười khô khốc.

"Hát gì. Ông ấy móm từ năm sáu mươi, rụng hết răng, nói còn phều phào. Có lần thằng Đức huýt sáo trêu, bảo ông huýt thử. Ông phùng má mãi chỉ ra hơi phì phì, cả hành lang cười."

"Thằng Đức hay huýt sáo à bà?"

"Suốt ngày. Đi gánh nước cũng huýt, nấu cơm cũng huýt. Cái bài gì mà biển với nhớ ấy. Có hôm tôi bảo nó huýt cái bài khác đi, nghe mãi buồn thối ruột."

Mưa phùn đọng thành giọt trên lan can sắt, rơi xuống sân lộp độp. Tôi ngồi im rất lâu. Bà Lựu cũng im, quạt cái quạt nan, mặc dù trời lạnh.

Rồi bà nói thêm một câu, như nói với cái ấm tích.

"Năm sau, có một bà ở Thái Bình lên tìm thằng Đức. Mẹ nó. Bà ấy hỏi cả dãy. Cô Hạnh bảo nó trốn nợ vào Nam rồi, còn đòi bà ấy trả ba tháng tiền nhà. Bà ấy đứng ở trước cửa phòng 46 khóc mãi. Rồi bà ấy sang đứng trước cửa phòng 47, không khóc, cứ đứng thế, đứng đến tối mới về."

"Sao bà ấy lại đứng trước phòng 47?"

"Tôi biết đâu. Hỏi thì bà ấy lắc đầu, bảo bà ấy cũng không biết, chân cứ tự đứng lại đấy."

* * *

Đêm ấy tôi nằm nghĩ. Tôi xếp lại từng mảnh. Thằng Đức bỏ đi trước khi ông Khải chết. Mẹ nó không tìm được nó. Tiếng huýt sáo, giọng trẻ, câu "anh nằm chỗ em rồi". Tôi nghĩ ra một chuyện mà lúc ấy tôi tin là đúng.

Thằng Đức đã chết ở đâu đó. Dọc đường vào Nam, ngoài bến cảng, dưới sông. Chết không ai biết, không ai chôn. Và hồn nó tìm về căn phòng duy nhất nó có ở Hải Phòng, phòng 46. Còn tiếng gõ bên kia tường là ông Khải. Ông già cô độc vẫn gõ tường hỏi thăm thằng hàng xóm trẻ mỗi tối, gõ mãi sau khi đã chết.

Hai người. Hai bên một bức tường. Tôi nằm giữa.

Mười một giờ, bên kia gõ ba. Tôi gõ đáp ba. Lần này tôi thêm vào, rất khẽ:

"Ông Khải đấy à?"

Bên kia im. Rất lâu. Rồi có tiếng gõ, nhưng không phải ba. Một tiếng. Thật mạnh. Như người ta đập tay xuống bàn khi nghe ai nói sai.

Sáng ra tôi mở cửa. Trước cửa phòng 47, trên lớp bụi trắng mịn mười năm không ai quét, có đôi dép tổ ong cỡ bốn mốt. Xếp ngay ngắn, sát mép cửa, mũi dép quay về phía phòng tôi.