☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng gõ phòng bên

Chương 6: Lá thư chưa gửi

Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem

Tôi quyết định dọn đi.

Sáng hôm sau tôi đạp xe sang nhà cô Hạnh ở Lạch Tray. Nhà cô bán tạp hóa, cửa cuốn mở một nửa, cô đang ngồi đếm tiền lẻ trong cái hộp bánh quy. Tôi bảo cháu muốn trả phòng, xin cô trả lại hai tháng tiền nhà còn dư.

Cô Hạnh không ngẩng lên.

"Hợp đồng ba tháng, anh đi trước thì mất cọc. Ai bảo anh thuê."

Tôi nói phòng ấy có chuyện. Cô dừng tay đếm tiền, nhìn tôi một lúc rất lâu. Rồi cô nói, giọng thấp hẳn, không còn chát chúa.

"Mười năm nay tôi cho bảy người thuê. Người ở lâu nhất được bốn tháng. Chẳng ai đòi được tiền. Anh muốn đi thì đi, tôi không giữ."

Cô cúi xuống đếm tiếp. Tôi đứng thêm một lúc rồi dắt xe ra. Trong túi tôi còn hơn hai trăm nghìn, lương thì cuối tháng mới lĩnh. Phòng trọ gần nhà máy rẻ nhất cũng ba trăm, phải đặt cọc hai tháng.

Tôi đạp xe về Máy Chai. Lên đến tầng bốn, tôi thấy bà Lựu đang ngồi ở chõng, nhìn tôi như đã biết tôi sẽ quay về.

* * *

Chiều ấy tôi sốt.

Không cao, nhưng dai dẳng, người cứ gai gai như có gió lùa sau gáy. Tôi nằm trên giường, đắp hai lớp chăn vẫn run. Tôi với lấy cái thùng các tông dưới gầm giường, định tìm cái áo phông cũ của thằng Đức để mặc thêm. Cái phong bì thư rơi ra.

Phong bì giấy pơ luya mỏng, chưa dán tem, chưa dán mép. Ngoài ghi bằng nét chữ nghiêng quen thuộc: "Kính gửi mẹ Phạm Thị Nhàn, thôn Thượng, xã Tam Quang, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình."

Bên trong là một tờ giấy kẻ ô học sinh gấp tư. Đề ngày 10 tháng Bảy năm 1995.

Tôi đọc nó dưới ánh đèn tròn vàng đục.

"Mẹ ơi, con vẫn khỏe. Tháng này cảng ít tàu, con chưa gửi tiền về được, tháng sau con gửi gộp. Mẹ đừng lo. Dạo này con đang trông nhà hộ một người, người ta đi xa, nhờ con trông. Chỗ ấy có hai cửa sổ, gió sông thổi vào mát lắm, đỡ hơn phòng con nhiều."

"Con sang đấy ngủ cho đỡ nóng. Người ta dặn con đừng nói với ai, nên mẹ cũng đừng hỏi ai nhé. Hôm nào con về con kể. Con của mẹ, Đức."

Tôi đọc đi đọc lại câu "trông nhà hộ một người". Lúc ấy, đầu óc nóng hầm hập vì sốt, tôi chỉ nghĩ thằng Đức đã đi đâu đó trong thành phố, trông một căn nhà nào đó, rồi gặp chuyện ở đấy. Tôi gấp lá thư cất vào túi áo ngực, cài khuy lại. Tôi không biết vì sao, nhưng tôi thấy không nên để nó trong thùng nữa.

Đêm ấy, bên kia không gõ ba tiếng như mọi khi. Bên kia gõ rất nhiều, nhẹ, lộn xộn, như ngón tay cào lên tường. Tôi gõ đáp ba. Tiếng cào vẫn không dừng. Đến gần sáng nó mới thưa dần.

* * *

Hết sốt, tôi đi Áng Dương.

Nghĩa trang nằm ven đường Lạch Tray, rộng mênh mông, mộ xây san sát như một khu phố thấp. Tôi hỏi ông già trông nghĩa trang khu mộ chôn năm chín lăm. Ông ngồi trong cái chòi lợp tôn, lật quyển sổ dày, ngón tay thấm nước bọt.

"Nguyễn Văn Khải, chôn tháng Tám năm chín lăm, phường Máy Chai đưa đến. Khu C, hàng mười hai. Mộ vô thừa nhận đấy, phường xây cho cái bia."

Ông dẫn tôi đi. Khu C là khu mộ nghèo, mộ đất đắp cao, có cái chỉ cắm cái bia xi măng. Cỏ gà mọc lút mắt cá chân. Đến hàng mười hai, ông dừng lại trước một ngôi mộ xây gạch, trát xi măng thô, không ốp đá, không ảnh.

Trên bia khắc sơn đen đã tróc: "Nguyễn Văn Khải. Sinh năm 1921. Mất tháng 7 năm 1995."

Tôi thắp ba nén hương. Gió từ phía biển thổi vào, khói hương bay ngang, không lên. Tôi khấn mấy câu, khấn cho ông Khải yên, đừng gõ nữa. Khấn xong tôi thấy mình như người khấn nhầm cửa. Một cảm giác rất rõ, như gọi tên một người mà người khác quay lại.

Trên bệ mộ có mấy chân hương cũ, đỏ quạch, cắm trong một cái bát sứ trắng đã sứt miệng. Có cả vết nến chảy.

"Mộ vô thừa nhận mà có người thắp hương hả bác?"

Ông già trông nghĩa trang gật.

"Có một bà. Năm nào cũng đến, đúng rằm tháng Bảy. Người Thái Bình, nghe giọng là biết. Mang theo cái bát hương này, hoa quả, cả một đôi dép mới cỡ to, đốt ngay ở đây."

"Họ hàng ông Khải à bác?"

"Không. Tôi hỏi rồi. Bà ấy bảo không quen ông này. Bà ấy bảo thầy chỉ đến, mà bà ấy cũng chẳng biết vì sao. Thắp hương xong, bà ấy không gọi tên ông Khải. Bà ấy ngồi ở đây gọi một cái tên khác."

Tôi hỏi tên gì. Ông già nhíu mày nghĩ.

"Không nhớ. Một chữ. Tên con trai. Gọi mãi, gọi đến khàn cổ."

Tôi đứng trước cái bia đề tên Nguyễn Văn Khải, tay đặt lên túi áo ngực, chỗ có lá thư. Nắng chiều rọi xuống mặt mộ. Và tôi thấy, ngay sát chân bia, trên lớp xi măng thô, có ba vết lõm nhỏ thẳng hàng. Như ai đó đã gõ vào đấy, từ bên dưới.