Chương 9: Ngôi chùa ở Lại Xuân
Khoảng 5 phút đọc·9lượt xem
Sáng thứ hai, tôi xin nghỉ thêm một ngày. Tổ trưởng chửi qua điện thoại công cộng, bảo nghỉ nữa thì nghỉ luôn. Tôi nói vâng rồi gác máy.
Tôi tìm ông Chiến. Ông đang ngồi sửa cái xe đạp dưới gốc bàng sân khu tập thể, tay đen dầu mỡ. Tôi ngồi xổm cạnh ông, hỏi ông Khải lúc sống có hay đi chùa không.
Ông Chiến lau tay vào giẻ, nghĩ một lúc.
"Có. Rằm nào cũng đi. Ông ấy lên tận bên Thủy Nguyên, một cái chùa nhỏ ở Lại Xuân, gần chân núi. Bảo sư ở đấy cùng đơn vị với thằng con ông ấy ngày trước. Có lần ông ấy còn nói đùa, già rồi lên đấy ở luôn cho xong."
"Ông ấy có nói lúc nào đi không bác?"
"Nói đùa thôi. Ông ấy chết trong phòng ông ấy cơ mà."
Ông Chiến cúi xuống vặn cái ốc. Tôi đứng dậy, dắt xe ra cổng.
* * *
Tôi đạp xe ra bến Bính, qua phà sang Thủy Nguyên. Sông Cấm buổi sáng đục ngầu, phà chở đầy xe máy với những sọt rau, những bao xi măng. Bên kia sông là đồng ruộng, núi đá vôi thấp lô nhô xa xa. Tôi hỏi đường mất gần hai tiếng mới đến Lại Xuân.
Chùa nằm dưới chân một quả núi đá, cổng tam quan rêu phong, sân lát gạch đỏ, có cây đại già nở hoa trắng. Một chú tiểu đang quét lá. Tôi hỏi gặp thầy trụ trì.
Thầy trụ trì đã ngoài bảy mươi, gầy, da mỏng như giấy, mặc áo nâu sờn. Thầy mời tôi uống chè ở hiên sau. Tôi nói tôi ở phòng 46 khu tập thể Máy Chai, muốn hỏi về một người tên Nguyễn Văn Khải.
Thầy đặt chén chè xuống. Rất lâu sau thầy mới nói.
"Ông Khải ở đây bốn năm. Mất năm chín chín. Tháp ông ấy ở sau chùa."
Tôi nghe như có ai đổ nước lạnh từ gáy xuống.
"Bốn năm hả thầy? Ông ấy lên đây từ bao giờ?"
"Tháng Năm năm chín lăm. Tôi nhớ vì hôm ấy là rằm tháng Tư, ngày Phật đản. Ông ấy mang theo bát hương với cái ảnh liệt sĩ của con trai, xin ở lại làm công quả đến hết đời."
* * *
Thầy kể chậm, giọng đều như tụng kinh.
Ông Khải biết mình sắp lẫn. Ông sợ chết một mình trong căn phòng ấy, sợ mấy tuần sau người ta mới phá cửa. Ông không có ai, chỉ có thằng cháu hàng xóm. Nhưng ông không muốn làm khổ nó.
Ông cũng sợ một chuyện khác. Căn phòng là nhà phân phối, ông chưa mua lại. Nếu ông bỏ đi, công ty sẽ thu hồi ngay. Ông muốn để căn phòng ấy cho thằng Đức. Thằng bé ở phòng hướng tây, hè nóng không ngủ được. Ông bảo nó cứ sang phòng ông mà ở, giữ lấy cái chìa, đừng nói với ai ông đi đâu, cứ để người ta tưởng ông vẫn ở đấy. Lâu dần thì thành của nó.
"Ông ấy để lại cho thằng bé mấy bộ quần áo cũ. Bảo mặc vào cho người ta tưởng là ông."
Tôi nhớ cái áo bộ đội vá vai, ngắn tay, trên tấm lưng gầy dài trong phòng 47.
Tôi nhớ hai bàn chân thò ra khỏi mép chiếu, dài lắm, như bà Lựu kể.
Tôi nhớ cái bàn thờ trống, cái vệt tường sạch hình chữ nhật. Không phải phường dọn. Ông Khải đã mang bát hương và ảnh con đi từ tháng Năm.
* * *
Tôi ngồi đó, chén chè nguội trong tay, và tôi hiểu ra tất cả. Tôi hiểu mà không cần ai nói.
Tháng Năm năm ấy, ông Khải đi. Thằng Đức vẫn gõ tường mỗi tối theo thói quen, mấy đêm liền không ai đáp. Ba vạch, gạch ngang, số không. "Tối nay gõ không thấy." Rồi nó cầm chìa, sang phòng ông. Nó mặc áo ông cho hàng xóm khỏi để ý. Nó viết thư cho mẹ, bảo đang trông nhà hộ một người, chỗ có hai cửa sổ, gió sông mát lắm.
Giữa tháng Bảy, nó ốm. Có lẽ cảm nắng, có lẽ sốt rét, có lẽ một thứ bệnh gì đó mà người bốc vác hai mươi tư tuổi không bao giờ nghĩ sẽ giết được mình. Ngày 14, nó mua đá cây để chườm. Rồi nó nằm trên giường ông Khải, quay mặt vào tường, và gõ.
Gõ sang phòng 46. Phòng của chính nó. Phòng trống.
Nó gõ cho đến khi ngón tay rớm máu. Không ai đáp. Cả dãy đóng cửa bật quạt. Cửa phòng ông Khải thì chính tay nó đã cài chốt trong.
Ba tuần sau người ta phá cửa. Một cái xác trương đen trong phòng ông Khải, trên giường ông Khải, mặc áo ông Khải. Không ai nhận mặt. Không ai ngờ. Người ta cuộn nó trong chiếu, rắc vôi, mang đi chôn dưới cái tên Nguyễn Văn Khải.
Còn thằng Đức thì người ta bảo nó trốn nợ vào Nam.
Mười năm nay, nó vẫn nằm ở đấy, trong căn phòng không phải của nó, dưới cái tên không phải của nó, gõ sang căn phòng của chính nó. Và tôi, nằm trên cái giường của nó, đã gõ đáp nó suốt hai tháng, như ông Khải ngày trước.
* * *
Thầy trụ trì dẫn tôi ra sau chùa. Tháp ông Khải nhỏ, xây gạch, cao ngang ngực, có khắc pháp danh và tên tục. Tôi thắp hương. Lần này khói bay thẳng.
Lúc tôi chào ra về, thầy nói thêm một chuyện, như vừa sực nhớ.
"Mấy năm cuối ông ấy lẫn nặng. Đêm nào cũng gõ vào vách liêu ba tiếng, rồi ngồi chờ. Không ai gõ lại thì ông ấy khóc. Ông ấy bảo, thằng bé chưa ngủ được."
Tôi về đến Máy Chai thì trời đã tối. Đèn hành lang tầng bốn chưa ai bật. Tôi đi dọc hành lang, qua chõng bà Lựu đã dọn, qua cửa phòng tôi.
Tôi dừng lại.
Hai dải giấy niêm phong trên cửa phòng 47 đã rách toạc, rủ xuống hai bên như hai tay áo. Cánh cửa xanh bạc màu hé ra chừng một gang tay. Bên trong tối đặc, và từ chỗ tối ấy, ai đó đang gõ nhẹ vào mặt trong cánh cửa, ba tiếng một, như gõ cửa nhà mình mà không ai ra mở.