☾ Truyện Ma Có Thật
← Tiếng gõ phòng bên

Chương 8: Người mẹ ở Vũ Thư

Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem

Tay tôi khâu sáu mũi ở trạm xá phường. Cô y sĩ hỏi sao rách thế, tôi bảo vướng tôn. Cô nhìn tôi, nhìn cái băng, không hỏi nữa.

Chủ nhật, tôi bắt xe khách ở bến Tam Bạc đi Thái Bình. Xe Bông Sen cũ, ghế rách lòi mút, chở cả người cả lồng gà. Qua cầu Kiến, qua phà Tân Đệ, đến thị xã thì đã trưa. Tôi thuê một cái xe ôm vào Vũ Thư, hỏi đường đến thôn Thượng, xã Tam Quang.

Nhà bà Nhàn ở cuối xóm, sát bờ đê. Nhà cấp bốn lợp ngói, sân gạch, trước sân có cái ao bèo tây tím ngắt. Một bà cụ gầy, tóc bạc trắng búi củ hành, đang ngồi vặt lông vịt ở thềm. Tôi hỏi có phải bà Nhàn không. Bà ngẩng lên, nhìn tôi từ đầu đến chân. Mắt bà dừng lại ở cái túi áo ngực của tôi.

"Anh ở Hải Phòng lên à?"

Tôi chưa nói gì về Hải Phòng.

* * *

Bà mời tôi vào nhà, rót nước vối. Trên bàn thờ có ảnh ông chồng bà, ảnh đen trắng, đội mũ cối. Cạnh đó là một khung ảnh nhỏ hơn, một thanh niên tóc húi cua, mặt dài, cười để lộ cái răng khểnh. Trước ảnh không có bát hương. Chỉ có một cốc nước và một đôi dép tổ ong mới tinh, còn nguyên dây buộc.

"Thằng Đức đấy. Tôi chưa dám lập bát hương cho nó. Chưa biết nó sống chết ra sao thì lập làm sao được."

Tôi lấy lá thư trong túi áo ngực đưa cho bà. Bà không biết chữ nhiều. Bà nhờ tôi đọc. Tôi đọc chậm, từng câu. Đến câu "con sang đấy ngủ cho đỡ nóng", bà đưa tay lên bịt miệng. Đọc xong, bà cầm tờ giấy kẻ ô áp vào ngực, ngồi im rất lâu. Ngoài sân có con vịt kêu quạc quạc.

* * *

Rồi bà kể.

Đức là con một, ra Hải Phòng năm chín ba, bốc vác ở cảng. Tháng nào nó cũng viết thư, gửi tiền, có tháng ba chục, có tháng năm chục. Thư nào nó cũng kể chuyện ông cụ phòng bên. Ông cụ cô đơn, con trai chết trận, nó thương như thương ông nội. Hai ông cháu giao hẹn với nhau, tối nào trước khi ngủ, nó gõ sang ba tiếng. Ông cụ gõ lại ba tiếng thì nó biết ông còn khỏe, nó mới yên tâm ngủ.

"Nó bảo, mẹ ơi, ông cụ già rồi, chết lúc nào không biết, con gõ thế cho chắc."

Bà cười, cái cười méo đi. Bà bảo lá thư cuối cùng bà nhận được là tháng Sáu năm chín lăm. Trong thư nó viết ông cụ dạo này lạ lắm, hay nói chuyện đi chùa, hay hỏi nó có thích căn phòng của ông không. Từ đấy không có thư nữa. Không có tiền nữa.

Sang năm sau bà ra Hải Phòng tìm. Bà chủ nhà bảo nó trốn nợ. Cả dãy bảo nó đi Nam. Bà về.

"Nhưng tôi biết nó không đi đâu cả. Nó là đứa có hiếu, đi đâu nó cũng viết thư."

* * *

Tôi hỏi bà có hay mơ thấy anh Đức không.

Bà gật. Năm nào cũng mơ, đúng dịp rằm tháng Bảy. Trong mơ, nó đứng ở đầu hồi nhà, mồ hôi ướt sũng áo, người nóng hầm hập như vừa đi nắng về. Mà nó không vào nhà. Nó đứng ngoài, cúi đầu.

"Nó nói, mẹ ơi, con nằm nhầm chỗ. Người ta gọi con bằng tên người khác. Con không về được."

Bà đi xem bói khắp nơi. Có ông thầy ở Kiến Xương bảo con bà chết rồi, nằm ở nghĩa trang ngoài Hải Phòng, khu thứ ba, hàng mười hai, bia đề tên một ông già. Bà ra Áng Dương tìm, đúng có cái mộ ấy. Bà lên phường Máy Chai hỏi, người ta bảo bà mê tín, mộ ấy là mộ ông Khải, ông Khải chết trong phòng ông Khải, có biên bản đàng hoàng.

"Tôi không làm gì được. Không giấy tờ gì. Tôi chỉ ra thắp hương. Thắp cho ông Khải một nén, rồi gọi tên con tôi."

* * *

Bà tiễn tôi ra đầu ngõ. Trời đã chiều, gió đồng thổi mùi rơm rạ. Đến gốc tre đầu ngõ, bà dừng lại, nắm cổ tay tôi, đúng bàn tay đang băng.

"Anh ở phòng nó. Đêm có ai gõ không?"

Tôi nói có.

"Thế anh có gõ lại không?"

Tôi nói có. Đêm nào cũng gõ.

Bà Nhàn nhìn tôi rất lâu. Mắt bà ướt, nhưng không khóc.

"Thế thì anh đang làm phần của ông cụ đấy."

Tôi không hiểu. Tôi lên xe ôm, ra thị xã, bắt chuyến xe cuối về Hải Phòng. Suốt dọc đường, câu ấy cứ lăn đi lăn lại trong đầu. Phần của ông cụ. Người gõ trước là thằng Đức. Người gõ đáp là ông Khải.

Mà tôi là người gõ đáp.

* * *

Về đến Máy Chai đã gần mười một giờ. Tôi lên cầu thang, bà Lựu đã dọn chõng. Tôi mở cửa, không bật đèn, nằm xuống giường quay mặt vào tường.

Đúng mười một giờ, bên kia gõ ba. Tôi không gõ đáp ngay. Tôi áp má vào lớp vôi lạnh, thì thào:

"Đức."

Bên kia im bặt.

Rồi, rất khẽ, từ phía bên kia bức tường, từ phòng 47 niêm phong mười năm, có tiếng huýt sáo vang lên. Đoạn đầu bài "Biển nhớ". Hụt hơi đúng chỗ cũ.

Tiếng huýt sáo của một thằng con trai trẻ, ở trong phòng của một ông già móm không bao giờ huýt sáo được.