Chương 1: Tượng thiếu nữ đội nước
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Làng tôi là Bàu Trúc, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, Ninh Thuận. Người đi quốc lộ 1 ngang qua chỉ thấy một dãy sạp bày gốm đỏ au dưới nắng. Đi sâu vào trong mới thấy nhà nào cũng có một khoảnh sân nện đất, chất rơm, chất củi, và đàn bà ngồi xổm hay đi giật lùi quanh một cục đất sét đặt trên cái bệ gỗ.
Làng tôi làm gốm không dùng bàn xoay. Cái bệ đứng yên, người đi quanh nó. Mẹ tôi nói bà ngoại, bà cố đều đi giật lùi như vậy. Đất lấy ở bãi ruộng ven bàu, trộn cát sông Quao, nhồi bằng chân. Nặn xong phơi trong bóng râm, rồi xếp ra bãi trống, phủ rơm, phủ củi, đốt lộ thiên một buổi chiều cho tới khi đất đỏ lên như than hồng. Không có cái gì che, không có cửa đóng lại.
Năm 2018 tôi bốn mươi tuổi. Tôi tên Phú Thị Nga, ở với mẹ là bà Châu Thị Ra trong căn nhà ngói của bên ngoại, theo lệ người Chăm con gái giữ nhà mẹ. Chồng tôi là anh Tài, chạy xe tải chở muối từ Cà Ná vào Sài Gòn, mỗi tháng về được dăm ngày. Con gái tôi là Mai, mười lăm tuổi, học lớp mười trên thành phố Phan Rang, sáng đạp xe đi, chiều đạp về.
Nồi, lu, khạp thì làng nào cũng làm được. Cái bán được giá cho khách là tượng. Tôi nặn tượng từ năm hai mươi tuổi: tượng vũ nữ, tượng ông già thổi kèn saranai, nhiều nhất là tượng thiếu nữ Chăm đội lu nước trên đầu. Tượng cao chừng bốn tấc, tay phải vịn lu, tay trái buông thả theo vạt váy. Gương mặt thì tôi nặn theo mặt con gái làng mình: trán cao, mắt dài, sống mũi thẳng, môi mím một chút như đang nín cười.
Đầu tháng Chín năm ấy, một chị chủ cửa hàng lưu niệm ở Hội An gọi điện đặt bốn chục tượng thiếu nữ đội nước, hẹn trước Tết dương lịch giao hàng. Mẹ tôi bảy mươi mốt tuổi, mắt mờ, không nặn tượng được nữa, chỉ ngồi nhồi đất và mài vỏ sò cho tôi. Tôi tính làm mỗi ngày một cái, chừa ngày đốt.
Mùa mưa năm ấy dài, bãi đất cũ ven bàu ngập tới gối. Hợp tác xã cho đào sang khoảnh mới phía đông, chỗ trước giờ để hoang, chỉ có cỏ may với một bụi xương rồng già cao hơn đầu người. Tôi với Mai đi xe máy ra lấy đất. Đất khoảnh mới mịn, dẻo, màu gan gà, bóp trong tay mát rượi và có mùi như mùi lá mục ngâm nước. Mai nói đất này thơm, con thích. Tôi chở về hai bao.
Chiều hôm đó tôi nặn cái tượng đầu tiên. Thân, váy, cái lu, tôi làm nhanh, tay quen rồi. Tới gương mặt tôi ngồi lâu hơn. Tôi lấy que tre vạch mắt, lấy đầu ngón út ấn khoé môi, lấy miếng vải ướt vuốt cho mịn. Xong tôi đặt tượng dưới hiên sau, chỗ có bóng cây me, trùm cái bao bố nhúng nước lên cho đất khỏi nứt vì khô nhanh.
Tối đó trời nóng, không có gió. Mẹ tôi ngồi trước ti vi tới khuya, như mọi tối thứ Bảy, Chủ nhật. Tôi đi ngủ trước.
Sáng ra tôi giở bao bố lên. Cái tượng vẫn đứng đó, cái lu vẫn trên đầu, vạt váy vẫn nếp như tôi vuốt. Nhưng gương mặt không phải gương mặt tôi nặn.
Đó là mặt một đứa con nít. Má tròn, cằm ngắn, cái trán bị một đường mái bằng cắt ngang ngay trên chân mày. Mũi nhỏ và hếch. Miệng hé ra một chút như sắp mếu. Dưới mắt trái có một chấm lồi nhỏ bằng hạt mè, như nốt ruồi. Gương mặt ấy không có cái gì của người Chăm. Đó là mặt một bé gái người Kinh, chừng năm sáu tuổi.
Đất trên mặt tượng còn ướt hơn chỗ khác, ướt như vừa có người vuốt lại. Tôi ghé sát. Trên hai gò má có những vết lõm rất nhỏ, sát nhau, như dấu đầu ngón tay. Ngón tay ấy nhỏ hơn ngón út của tôi.
Tôi gọi Mai. Con bé đang chải đầu chuẩn bị đi học, chạy ra, nhìn rồi cười.
"Mẹ nặn ai vậy? Dễ thương mà, nhưng đâu phải con gái Chăm."
"Mẹ đâu có nặn cái mặt này."
Mai nhìn tôi, thôi cười. Con bé nói chắc tối qua mèo nhảy lên. Tôi không nói gì. Mèo không vuốt được cái mũi hếch lên như vậy.
Mẹ tôi ra sau hiên lấy nước rửa mặt. Bà đi chậm, tay vịn tường. Tới chỗ cây me thì bà thấy cái tượng. Cái gáo dừa trong tay bà rơi xuống nền xi măng, nước văng lên chân tôi lạnh ngắt.
Bà không nói gì. Bà đứng nhìn gương mặt đó, môi mấp máy, rồi quay vào nhà. Tôi nghe tiếng bà mở cái rương gỗ trong buồng, tiếng nắp rương đóng lại, rồi im.
Tôi hỏi vọng vào, amaik có sao không. Bà nói vọng ra, giọng khàn:
"Sửa lại đi. Đừng để vậy."
Tôi lấy dao tre gọt bỏ gương mặt con nít, đắp đất mới, nặn lại mặt thiếu nữ như mọi lần. Tôi làm kỹ hơn mọi lần, sống mũi cao hơn, mắt dài hơn. Xong tôi trùm bao bố, và lần này tôi khoá cửa hiên sau, cái khoá Việt Tiệp đã rỉ, phải đè vai vào mới bấm được.
Tối đó tôi nằm không ngủ được. Ngoài sân, dế kêu rả rích dưới đống rơm. Gần nửa đêm thì tiếng dế tắt. Không tắt dần, mà tắt một lượt, như có ai bước qua đống rơm. Trong cái im ấy tôi nghe phía hiên sau có tiếng sột soạt khe khẽ, như tiếng vải bao bố cọ vào đất ướt. Tôi nằm cứng người, không dám ngồi dậy.
Sáng hôm sau cái khoá vẫn bấm chặt. Tôi mở cửa, giở bao bố.
Gương mặt con nít lại nằm trên cái tượng, y như hôm qua: mái bằng, mũi hếch, nốt ruồi dưới mắt trái. Lần này còn rõ hơn, khoé miệng mếu xệ xuống thêm một chút. Và đất trên hai má ướt đẫm, ướt tới mức có một giọt nhỏ đọng ở cằm, màu nâu đỏ của đất bàu, rớt xuống vạt váy đúng lúc tôi nhìn.