Chương 2: Vết tay dưới hố đất
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi không sửa cái mặt ấy lần thứ hai. Tôi bê cái tượng vào góc buồng chứa củi, trùm bao lại, rồi nặn cái khác. Đơn hàng còn ba mươi chín cái, không có thời gian ngồi sợ. Tôi tự nhủ chắc tại đất khoảnh mới mềm quá, để qua đêm thì chảy, rồi mắt mình nhìn ra mặt người. Nói vậy mà hai cái tượng sau tôi đều để trong buồng ngủ, đặt ngay dưới chân giường.
Hai đêm đó yên. Sáng ra mặt thiếu nữ vẫn là mặt thiếu nữ. Tôi thở ra được một hơi.
Tới ngày thứ năm hết đất, tôi phải ra bàu lấy thêm. Mai nghỉ học buổi chiều, đòi đi theo. Con bé thích ra bàu vì ngoài đó có gió, đứng trên bờ nhìn được cả cánh đồng nho bên kia đường ray.
Khoảnh đất mới nằm cách mép bàu chừng ba chục bước. Người hợp tác xã đào thành một cái hố vuông, sâu tới ngực, thành hố dựng đứng, nước rỉ ra từng vệt ở đáy. Ai lấy đất thì xuống hố, xắn bằng thuổng, bỏ vào bao, đưa lên cho người đứng trên. Bụi xương rồng già đứng ngay mép phía đông của hố, gốc to bằng bắp chân, mấy nhánh trên đã vàng úa vì mùa mưa.
Tôi xuống hố, Mai đứng trên giữ bao. Xắn được vài thuổng, tôi thấy thành hố phía đông có cái gì lạ.
Trên mặt đất sét dựng đứng, từ đáy hố lên tới gần miệng, có một hàng dấu tay. Dấu tay nhỏ, năm ngón xoè, in sâu vào đất ướt chừng một đốt ngón. Bàn tay trái rồi bàn tay phải, so le, cái trên cao hơn cái dưới một gang, như có một đứa con nít bám vào thành hố mà leo lên. Dấu tay cao nhất nằm sát miệng hố, ngay dưới gốc xương rồng.
Tôi áp bàn tay mình lên một dấu. Bàn tay ấy chỉ chừng nửa bàn tay tôi. Đất trong lòng dấu tay lạnh hơn đất xung quanh, lạnh như mới có ai rút tay ra.
"Mẹ ơi, con nít nhà ai xuống đây chơi vậy?"
Mai đứng trên miệng hố, nhìn xuống. Tôi nói chắc con nít trong xóm. Nhưng tôi biết không phải. Hố này hợp tác xã mới đào bốn ngày, chung quanh rào kẽm gai, cổng khoá, chìa ở nhà ông tổ trưởng. Con nít muốn vô phải chui rào. Mà dấu tay leo từ dưới đáy lên, không có dấu nào đi xuống. Dưới đáy hố, chỗ nước rỉ, cũng không có dấu chân.
Tôi lấy thuổng xắn phăng mảng đất có dấu tay, bỏ luôn vào bao. Tôi không muốn để đó cho người khác thấy, mà cũng không muốn nhìn nó nữa. Lên khỏi hố, tôi phủi tay, thấy Mai đang đứng sát bụi xương rồng, cúi xuống nhìn gốc.
"Mẹ, ở đây có ai cúng hả?"
Dưới gốc xương rồng có một cái chén sành nhỏ, men nâu đã bong, lún nửa trong đất. Trong chén có nước mưa đọng và mấy hột gạo trương lên trắng đục. Tôi nhận ra cái chén ấy. Nó là chén nhà tôi, loại chén mẹ tôi nặn hồi còn trẻ, đáy có in một dấu móng tay hình trăng khuyết, dấu riêng của bà.
Tôi không nói với Mai. Tôi bảo con lên xe, chở đất về.
Tối đó tôi hỏi mẹ có hay ra bãi đất phía đông không. Mẹ đang ngồi mài vỏ sò, không ngẩng lên. Bà nói già rồi, đi đâu nổi. Tôi nói con thấy cái chén của amaik dưới gốc xương rồng. Tay bà dừng lại trên hòn đá mài. Rồi bà mài tiếp, đều tay.
"Chén nồi cả làng giống nhau. Con nhìn lầm."
Tôi biết mình không nhìn lầm. Nhưng mẹ tôi là người như vậy, không muốn nói thì có hỏi tới sáng cũng không ra. Bà ít nói từ hồi tôi còn nhỏ. Người trong làng bảo bà Ra hiền, chỉ biết làm gốm và coi ti vi.
Chuyện coi ti vi của mẹ tôi thì cả xóm biết. Mấy năm nay, tối thứ Bảy nào bà cũng ngồi trước ti vi đúng chương trình tìm người thân. Trong nhà không ai được đổi kênh. Bà đọc chữ quốc ngữ không rành, những dòng chữ chạy dưới màn hình bà không đọc kịp, bà chỉ nhìn mặt người. Người già lên kể chuyện lạc con, lạc mẹ, có ảnh đen trắng mờ mờ, có tiếng khóc. Bà ngồi xem, không khóc, cũng không nói, chỉ nhìn chăm chăm. Tôi từng nghĩ mẹ thích chương trình ấy như người ta thích cải lương.
Tối thứ Bảy đó tôi đi ngang phòng khách, ti vi đang chiếu một ông già người Kinh tóc bạc trắng, ngồi cạnh một bà già, ông cầm một tấm ảnh nhỏ đưa lên trước máy quay. Tấm ảnh lướt qua có một hai giây. Một bé gái, mặt tròn, mái bằng. Tôi đang bưng thau đồ ra phơi, không dừng lại. Tôi chỉ thấy trong bụng chộn rộn, như vừa đi ngang ai quen mà không nhớ tên.
Mẹ tôi ngồi đó, thẳng lưng, hai tay nắm lấy đầu gối.
Gần khuya, trời có gió nhẹ. Tôi đã ngủ được một giấc thì Mai lay tôi dậy. Con bé nằm giường bên, giờ đứng sát mép giường tôi, tay lạnh ngắt.
"Mẹ, mẹ nghe không?"
Tôi nghe. Từ phía sau nhà, phía hiên có cây me, có một giọng con nít. Giọng nhỏ, đứt quãng, không phải khóc mà như gọi trong lúc đang khóc. Giọng ấy nói tiếng Kinh, kéo dài cái giọng của người miền ngoài, không phải giọng Phan Rang.
"Má ơi... má ơi..."
Con nít Chăm không gọi mẹ là má. Trong xóm tôi không có nhà người Kinh nào có con nhỏ.
Tôi cầm cây đèn pin, mở cửa buồng. Mẹ tôi đã đứng ở cửa hiên sau từ lúc nào, không bật đèn. Bà đứng quay lưng về phía tôi, tay vịn khung cửa, nhìn ra cái khoảng tối dưới cây me. Tiếng gọi vẫn còn, mỗi lúc một xa hơn, như đi về phía bàu.
Tôi gọi mẹ. Bà không quay lại. Bà nói một câu tiếng Chăm rất khẽ, câu người lớn trong làng hay nói với con nít khi dỗ ngủ: thôi, ngủ đi, ngủ đi con.