☾ Truyện Ma Có Thật
← Tượng đất Bàu Trúc

Chương 9: Bức tượng cuối cùng

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Cái tượng mặt con nít nằm vỡ dưới gốc me, thân gãy làm ba, cái lu văng ra tận bậc thềm. Chỉ có gương mặt là còn nguyên một mảnh, nằm ngửa trên nền xi măng. Lần đầu tiên sau gần hai tháng, đất trên mặt ấy khô trắng, nhẹ tênh trong tay tôi.

Tôi cầm mảnh mặt đó, đưa điện thoại lên tai, trả lời bà Huê. Tôi nói nó có khóc, mà có người ôm nó suốt. Mẹ tôi ôm nó. Tới lúc nó đi cũng nằm trong lòng mẹ tôi.

Bên kia đầu dây, bà Huê khóc thành tiếng. Anh Cường lấy lại máy, nói tuần sau cả nhà sẽ vô.

Mười ngày sau, một chiếc xe mười sáu chỗ dừng ở đầu ngõ. Anh Cường đỡ ông Nhẫn xuống, ngồi lên xe lăn. Bà Huê xuống sau cùng, khăn len quấn cổ, tay ôm cái giỏ đệm đựng nhang đèn, trái cây. Theo xe có hai người của chương trình và một cán bộ xã.

Mẹ tôi đứng ở cổng, mặc bộ áo dài Chăm trắng chỉ mặc ngày lễ. Hai bà già nhìn nhau. Không ai nói gì trước. Rồi bà Huê bước tới, nắm hai bàn tay mẹ tôi, cúi đầu xuống, trán chạm vào mu bàn tay bà.

Chiều hôm đó, có mặt ông tổ trưởng hợp tác xã, ông Hàm và mấy người già trong làng, chúng tôi ra bụi xương rồng. Ông Hàm đứng khấn bằng tiếng Chăm, xin đất cho đào. Anh Cường và hai người cháu cầm thuổng. Mẹ tôi chỉ chỗ, cách gốc xương rồng hai bước về phía bàu, đúng chỗ thành hố có dấu tay leo lên và vết đất bị cào sâu một gang.

Họ đào chừng nửa thước thì gặp một lớp tro đen mịn, lẫn than vụn. Lớp tro của đêm năm bảy lăm, mẹ tôi đốt rơm lên mặt đất mới chôn để người ta tưởng là chỗ đốt gốm. Dưới lớp tro là đất sét gan gà, rồi tới những sợi cói mục đen. Trong lớp cói là một bộ xương nhỏ, nằm nghiêng, hai tay co lên ngực.

Cạnh bàn tay ấy có một cái chén đất nhỏ, méo, chưa nung. Bên trong chén vẫn còn dấu mấy đầu ngón tay bé xíu bóp vào.

Bà Huê quỳ xuống mép hố. Bà không khóc lớn. Bà chỉ nói, giọng nhỏ như nói với đứa con đang ngủ: má tới rồi nè con, má xin lỗi, má đi lâu quá.

Người của chương trình lấy mẫu xương đem đi giám định, nói phải chờ gần một tháng. Ông Nhẫn ngồi trên xe lăn, cầm hai cái nút con bướm mẹ tôi đưa, cầm mảnh vải bông đã bạc màu, áp lên ngực. Ông nói chừng này đủ rồi.

Tối đó gia đình ông Nhẫn ở lại nhà tôi. Ngồi quanh bộ ván, mẹ tôi kể lại chín ngày năm ấy, bằng thứ tiếng Kinh lơ lớ của bà. Kể chuyện gốc me, chuyện nồi lá xông, chuyện con nhỏ nặn con gà, con chén. Bà Huê hỏi con nhỏ đi giật lùi quanh cái bệ ra sao. Mẹ tôi chống tay đứng dậy, dù chân đã yếu, đi giật lùi một vòng quanh cái bệ gỗ giữa phòng, hai tay khum như đang vuốt một cái nồi không có thật. Bà Huê nhìn theo, vừa cười vừa khóc.

Ông Nhẫn nói với mẹ tôi một câu tôi nhớ tới giờ:

"Chị giữ con nhỏ giùm tụi tui bốn mươi ba năm. Tụi tui đâu có trả được."

Mẹ tôi lắc đầu, nói bà có lỗi vì không đi tìm. Ông Nhẫn nắm tay bà, không cho nói nữa.

Hài cốt bé Bích được đưa về Phù Mỹ, chôn dưới mấy cây dừa sau nhà ông Nhẫn, cạnh mộ ông bà nội. Mẹ tôi, tôi và Mai ra dự lễ. Đó là lần đầu tiên mẹ tôi đi xa khỏi Ninh Thuận. Mẹ tôi đem theo con gà đất, đặt lên mộ, ngay trước tấm bia mới khắc tên Trần Thị Ngọc Bích, chữ B viết hoa thật to. Một tháng sau, giấy giám định gửi về, đúng là con của ông bà.

Ông Nhẫn mất vào mùa xuân năm sau, nhẹ nhàng, trong giấc ngủ trưa. Người nhà chôn ông ngay cạnh con gái. Bà Huê bây giờ đã ngoài tám mươi, năm nào cũng nhờ anh Cường chở vô Bàu Trúc ở với mẹ tôi vài ngày, dịp Katê. Hai bà già ngồi trên bộ ván, một bà nói tiếng Kinh giọng Bình Định, một bà nói tiếng Kinh giọng Chăm, hiểu nhau được một nửa mà vẫn ngồi tới khuya. Anh Cường gọi mẹ tôi là má Ra. Mai thì gọi bà Huê là ngoại.

Mẹ tôi không ngồi xem chương trình tìm người thân vào tối thứ Bảy nữa. Bà nói bà không cần nhìn mặt ai nữa.

Cái hố đất ở khoảnh phía đông bàu, hợp tác xã cho lấp lại. Bụi xương rồng vẫn để đó. Năm nào tới Katê, mẹ tôi vẫn đặt một chén cơm dưới gốc, nói là cho quen tay. Năm vết ngón tay trên cổ tay tôi phai dần trong một tuần, tới khi không còn thấy nữa.

Đơn bốn chục cái tượng thiếu nữ đội nước, tôi giao cho chị chủ cửa hàng ở Hội An trước Tết dương lịch, thiếu một cái. Chị hỏi, tôi nói bể trong mẻ đốt. Cái thứ bốn mươi không bể.

Tôi nặn nó vào buổi chiều sau ngày đưa bé Bích về Phù Mỹ, bằng chút đất cuối cùng còn trong bao lấy từ khoảnh phía đông. Tôi nặn gương mặt thiếu nữ Chăm, trán cao, mắt dài, như mọi lần. Sáng hôm sau giở bao bố ra, gương mặt đã đổi. Má tròn, mái bằng, mũi hếch, cái nốt ruồi nhỏ dưới mắt trái. Nhưng lần này khoé miệng không mếu nữa. Nó hơi nhếch lên, như đứa nhỏ nín cười trước máy chụp ảnh.

Tôi để nó yên. Đất trên mặt nó khô đều như mọi chỗ khác. Tôi nung nó trong mẻ rơm kế tiếp, nó ra nguyên vẹn, màu đỏ nâu loang vệt vỏ cây.

Cái tượng ấy giờ đứng trên kệ gỗ trong phòng khách nhà tôi, quay mặt về phía bắc, phía Phù Mỹ. Thỉnh thoảng, những sáng trời ẩm, tôi thấy trên gò má nó có một dấu nhỏ bằng đầu ngón tay con nít, như có ai vừa chùi vết đất. Tôi lấy khăn lau đi. Vài hôm sau dấu ấy lại có.