☾ Truyện Ma Có Thật
← Tượng đất Bàu Trúc

Chương 8: Người tìm con

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi đứng ở bậc hiên, nhìn xuống mặt sân. Phải đứng cao mới đọc được. Hai chữ, nét to, run, vòng nào cũng méo, như chữ đứa nhỏ lớp một tập viết trên bảng con. Dấu huyền là một vết nứt xiên, dấu ngã là một vết nứt lượn sóng ngắn. Tôi đọc thành tiếng, nghe giọng mình khàn đi.

"Phù Mỹ."

Mẹ tôi chống gậy ra tới hiên, đứng sau lưng tôi. Bà không đọc được chữ, nhưng bà nghe tôi đọc. Bà lặp lại theo, chậm, từng tiếng một, rồi bà đưa tay bụm miệng.

"Phải rồi. Phù Mỹ. Nó nói hoài cái tên đó."

Mai chạy ra, tay cầm điện thoại. Con bé ngồi xuống bậc hiên, bấm tìm kênh của chương trình trên mạng, kéo xuống những tập phát hồi đầu tháng Chín. Con bé dừng lại ở một tập, đưa máy cho tôi. Tôi bấm vào, vặn hết tiếng.

Trên màn hình nhỏ là một ông già gầy, tóc bạc trắng, mặc áo sơ mi trắng cài tới cổ, ngồi cạnh một bà già đội khăn len dù trời trong phòng quay chắc nóng. Dòng chữ bên dưới ghi: ông Trần Văn Nhẫn, bảy mươi bảy tuổi, bà Lê Thị Huê, bảy mươi bốn tuổi, ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Ông bà tìm con gái Trần Thị Ngọc Bích, sinh năm 1969, thất lạc đầu tháng Tư năm 1975 trên quốc lộ 1, đoạn gần Phan Rang.

Ông Nhẫn kể bằng giọng Bình Định nặng trịch. Hồi đó ông chạy xe lam chở hàng ở chợ huyện. Tháng Ba năm bảy lăm, cả nhà chất lên xe lam chạy vô Nam. Tới gần Phan Rang thì xe hết xăng, kẹt giữa dòng người. Bé Bích khát nước, bà Huê dắt con xuống, biểu con ngồi dưới gốc cây bên đường chờ, bà đi xin nước ở mấy nhà dân. Bà quay lại thì đoàn xe đã dồn lên, người xô nhau, gốc cây trống trơn.

"Tụi tui kiếm suốt mấy ngày," ông Nhẫn nói, "kiếm dọc đường, hỏi từng người. Rồi phải đi theo dòng người. Sau giải phóng tụi tui trở ra, vô kiếm lại nữa. Không ai biết."

Bà Huê ngồi bên, không nói. Bà cầm một tấm ảnh đen trắng nhỏ bằng bao thuốc lá, đưa lên trước máy quay.

Tôi bấm dừng hình.

Một bé gái chừng năm tuổi, chụp ở tiệm, ngồi trên cái ghế đẩu. Má tròn. Mái bằng cắt ngang trên chân mày. Mũi nhỏ và hếch. Dưới mắt trái có một chấm đen nhỏ. Bé mặc áo bông, ảnh đen trắng nên không thấy màu, nhưng ngay ngực áo có hai cái nút hình con bướm.

Tôi đưa điện thoại cho mẹ. Mẹ tôi cầm bằng hai tay, kéo ra xa, kéo lại gần, như người mắt kém tìm chỗ nhìn rõ nhất. Bà nhìn tấm ảnh rất lâu. Rồi bà đặt cái điện thoại xuống bậc hiên, úp mặt màn hình xuống, như sợ nó nhìn thấy mình.

"Nó đó."

Tôi bấm cho chạy tiếp. Người dẫn chương trình hỏi ông bà còn nhớ đặc điểm gì của bé. Bà Huê mở miệng lần đầu tiên, giọng nhỏ, đứt quãng.

"Áo nó bông hoa đỏ, tui may. Tui đơm cho nó hai cái nút con bướm xanh, nó đòi hoài, tui mua ở chợ. Nó học xong lớp một rồi, nó viết được tên nó rồi. Nó viết chữ B to lắm, cái bụng dưới to hơn cái bụng trên, cô giáo la hoài mà nó hổng sửa."

Mai ngồi cạnh tôi, ôm lấy cánh tay tôi. Tôi nhìn xuống cổ tay mình. Năm vết ngón tay nhỏ màu đất bàu đã nhạt đi một nửa.

Cuối đoạn phát sóng, ông Nhẫn nhìn thẳng vô máy quay. Ông nói ông bị bệnh tim, bác sĩ nói không biết được bao lâu. Ông không mong con còn sống nữa. Ông chỉ mong biết con nằm ở đâu, để đem nó về chôn cạnh ông bà nội nó, ở dưới mấy cây dừa sau nhà.

Rồi tôi xem tới ngày phát sóng ghi ở dưới. Tối thứ Bảy, ngày mùng tám tháng Chín. Cái tối tôi nặn cái tượng đầu tiên bằng đất của khoảnh mới, trùm bao bố, để dưới cây me. Cái tối mẹ tôi ngồi trước ti vi tới khuya, nhìn mặt hai ông bà già mà không biết họ đang tìm ai. Tuần sau đó chương trình phát lại, chính là lúc tôi bưng thau đồ đi ngang.

Con nhỏ đã nghe. Nó nằm dưới gốc xương rồng bốn mươi ba năm, đúng lúc khoảnh đất ấy bị đào lên thì má nó lên ti vi gọi nó. Nó không gọi được má. Nó chỉ gọi được người còn sống gần nó nhất, người đã ôm nó lúc nó đi, mà người ấy không đọc được chữ. Nên nó nhờ tới tôi, tới con gái tôi.

Chiều đó, Mai bấm số đường dây của chương trình in ở cuối tập. Tôi cầm máy. Một cô gái giọng Bắc nghe, ghi tên, ghi địa chỉ, hỏi tôi tìm ai. Tôi nói tôi không tìm ai, tôi biết con của một gia đình đang tìm. Tôi kể ngắn: tấm ảnh, cái nốt ruồi, hai cái nút áo con bướm, chỗ chôn. Cô gái im lặng một lúc, rồi hỏi tôi có giữ được gì không.

"Có. Hai cái nút áo. Một miếng vải bông. Với một con gà đất nó nặn."

Cô gái nói sẽ báo cho gia đình, nhưng dặn tôi đừng hứa gì với ai, vì nhiều người gọi tới rồi không đúng. Tôi nói tôi hiểu.

Tối đó tôi ngồi ngoài hiên, cầm cái điện thoại trên đùi. Mặt sân dưới trăng còn nguyên hai chữ nứt, đen thẫm. Gần mười giờ, điện thoại reo, một số máy lạ đầu mã Bình Định.

Đầu dây bên kia là giọng một người đàn ông chừng năm chục tuổi. Anh nói anh tên Cường, con trai út ông Nhẫn, sinh sau khi chị Bích lạc. Anh hỏi tôi tả lại cái nút áo. Tôi tả. Anh im rất lâu, tôi tưởng mất sóng. Rồi tôi nghe ở đầu dây bên kia có một giọng đàn bà già nói chen vào, giọng run, gấp, như sợ người ta giật máy.

"Cô ơi... con tui... hồi đó nó có khóc nhiều không cô?"

Tôi chưa kịp trả lời thì ngoài cây me có tiếng một vật bằng đất rơi xuống nền xi măng, vỡ tan.