Chương 10: Vết rìu trên gốc
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi gọi ông em họ. Nửa tiếng sau ông ấy lái cái xe tải nhỏ chở phân tới, chở luôn mười bao cà phê nhân của nhà tôi ra đại lý thu mua ở thị trấn. Đại lý thấy tôi bán gấp thì ép giá, tôi không mặc cả một câu. Ông em họ cho vay thêm phần còn thiếu. Bốn chục triệu tiền mặt, tôi nhét vào cái túi ni lông đen, kẹp dưới nách.
Trên thùng xe có thằng Thắng, Thơn và H'Lun. Chị ngồi bó gối trên đống bao tải rỗng, mẩu gỗ hình bàn tay gói trong vạt áo.
Tới tiệm ông Hải thì trời đã nhá nhem. Tiệm nằm sát một con đường đất đỏ ven Pleiku, sân rộng bày đầy gốc cây, gỗ lũa, lục bình, tượng Phật gỗ. Một chiếc xe tải biển Sài Gòn đậu giữa sân, thùng mở. Sáu người bốc vác ngồi bệt dưới đất, áo ướt sũng mồ hôi. Một người đàn ông đeo kính, áo sơ mi trắng, đứng gọi điện thoại, giọng bực bội.
Bức tượng nằm ngửa trên hai cái đòn gánh kê dưới đất, cạnh bánh xe tải.
Lần đầu tiên tôi thấy nó. Người đàn bà bằng gỗ cao chừng ngang ngực tôi, gỗ đã ngả màu nâu xám, nứt dọc thớ ở vai. Ông Hải đã đánh một lớp dầu bóng lên khắp người tượng, chỗ bóng chỗ không, nhìn như da người vừa bị lột. Khuôn mặt người đàn bà ngửa lên trời, cái trán dô, cái cằm nhọn, đuôi mắt hơi xếch. Trong vòng tay chị là đứa bé, đầu tựa vào ngực mẹ. Một bàn tay đứa bé còn nắm vào áo mẹ. Bàn tay kia gãy cụt.
H'Lun nhảy xuống khỏi thùng xe trước cả khi xe dừng hẳn. Chị đi thẳng tới, quỳ xuống bên bức tượng. Chị nói bằng tiếng Jrai, rất khẽ, như người ta nói với đứa trẻ đang ngủ. Rồi chị mở vạt áo, lấy mẩu gỗ ra, áp vào chỗ cổ tay gãy của đứa bé.
Nó khớp. Thớ gỗ ăn vào nhau, đường khía của những ngón tay nhỏ liền với cổ tay.
Ông Hải đứng ở thềm tiệm, mặt xám ngoét. Tôi đưa túi tiền, ông ta cầm mà không đếm. Ông ta quay sang nói gì đó với ông khách Sài Gòn, móc ví trả lại tiền cọc. Ông khách lắc đầu, lên xe tải, đóng sập cửa.
Tôi bảo thằng Thắng với Thơn khiêng. Hai đứa cúi xuống, mỗi đứa một đầu. Tôi đã chuẩn bị tinh thần gọi thêm người. Nhưng hai đứa nhấc lên được ngay, nhẹ bẫng, như nhấc một khúc gỗ khô đã rỗng ruột. Mấy người bốc vác ngồi dưới đất nhìn nhau, không ai nói gì.
Đêm ấy bức tượng nằm trên thùng xe tải, phủ tấm chăn bông của nhà tôi, H'Lun ngồi bên cạnh suốt dọc đường về Chư Sê.
Mười ngày sau, làng làm lễ ở góc rẫy nhà tôi. Già làng bảo đây không phải lễ bỏ mả lớn như năm 1998, chỉ là làm lại một phần để người chết yên. Nhà tôi chịu tiền một con heo, mấy ché rượu cần, gạo, muối. Người làng sang từ sáng, dọn cỏ, dựng lại hàng rào bằng cọc mới chặt trong rừng.
Bức tượng không gắn lại được vào cái gốc cũ. Mấy người đàn ông đào một cái hố sâu ngay cạnh gốc, dựng tượng xuống, nện đất chặt quanh chân. Người mẹ bằng gỗ đứng lại ở góc mả, mặt quay về phía gò, tay bế con. Ở cổ tay đứa bé, chỗ bàn tay gãy, H'Lun lấy nhựa cây dán lại.
Già làng khấn bằng tiếng Jrai. Chiêng đánh từng hồi. Người làng uống rượu cần, ăn thịt heo nướng ngay giữa rẫy cà phê nhà tôi. Tôi không hiểu một chữ nào trong lời khấn, chỉ đứng sau lưng già làng, chắp tay. Thằng Thắng thì được bảo đứng cạnh bức tượng suốt buổi lễ, không được ngồi. Nó đứng từ sáng tới chiều, mồ hôi chảy ròng ròng, không kêu một tiếng.
Lúc mặt trời xuống, H'Lun đi lại bên tôi.
"Giờ cháu tôi có người bế lại rồi."
Đêm ấy tôi không mơ. Sáng ra, con Mực nằm khoanh tròn dưới hiên nhà tôi, cổ trơn không vòng, đuôi vẫy đập xuống đất đỏ. Từ đó nó không bỏ đi nữa. Đêm nào nó cũng ngủ, không sủa về phía rừng.
Đầu tháng Năm, mưa đầu mùa đổ xuống Chư Sê. Hàng cà phê thứ mười bảy đâm lộc mới, xanh non, đến cuối tháng thì không còn phân biệt được với các hàng khác. Khóm dâm bụt ở cổng cũng ra lá. Thằng Thắng bán chiếc Exciter, cầm tiền trả nợ ông em họ. Nó ở lại làm rẫy với bố, không đòi về quê nữa. Ba năm sau nó lấy vợ, con gái một nhà người Kinh ở thị trấn.
Tôi có hỏi H'Lun xem nhà tôi phải cúng thế nào cho phải đạo. Chị bảo người Jrai bỏ mả rồi thì không cúng mả nữa. Nhưng nhà chú đã làm động tới người chết, chú muốn ra thăm thì cứ ra.
"Mang một chén rượu. Gọi tên cha tôi. Nói cho cha tôi biết con cha tôi còn đứng. Vậy là đủ."
Tôi làm vậy đã gần mười năm. Năm nào trước Tết, hết vụ hái, tôi cũng đi một mình xuống góc rẫy, rót một chén rượu ngô đặt dưới chân bức tượng. Tôi gọi "Ama Blơi", rồi nói bằng tiếng Kinh là con ông còn đứng, cháu ông còn có người bế. Bức tượng mỗi năm xám thêm một chút, nứt thêm một chút. Già làng bảo vậy là đúng, cứ để nó mục từ từ ở chỗ của nó.
Cái gốc cũ vẫn còn đó, nhô lên cạnh chân bức tượng mới dựng. Mặt cưa đã sạm đen như mọi khúc gỗ khác. Quanh thân nó là những vết rìu của Ama Blơi từ năm 1998, mép nhẵn, xám như tro.
Chỉ có một vết rìu không xám.
Đó là vết thằng Thắng chém hụt hôm tháng Chạp, lệch lên trên, xiên vào thân gỗ. Gần mười năm mưa nắng, vết ấy vẫn trắng như hôm mới chặt. Năm nào tôi cũng bốc một nắm đất đỏ xát lên cho nó sẫm đi. Sang năm ra, nó lại trắng.