☾ Truyện Ma Có Thật
← Vai diễn Thị Mầu

Chương 1: Cú ngã của ông xã trưởng

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Nhà tôi ở xóm Đồng Cói, xã Hồng Vạn, huyện Kim Sơn. Đất ấy là đất bồi, cứ vài chục năm lại lấn ra biển một quãng, người ta đắp đê mới rồi trồng cói. Nhà nào cũng có một khung dệt chiếu kê ở hiên. Tiếng go đập sợi cói sột soạt suốt ngày.

U tôi dệt chiếu. Bố tôi đóng chèo.

Bố tôi tên Đinh Văn Chút, nhưng cả huyện gọi là Chút Hề. Ông làm diễn viên đoàn chèo Hồng Vạn từ năm mười bảy tuổi, chưa đóng vai kép, vai đào bao giờ. Ông đóng xã trưởng, đóng anh đồ gàn, đóng thầy bói, đóng lão say. Hồi trẻ ông còn đóng cả con Nô, đứa hầu gái của Thị Mầu, mặc yếm, cài trâm giả, cất giọng the thé làm cả sân đình cười lăn.

Năm 1993 tôi mười hai tuổi, học lớp sáu trường cấp hai xã. Mùa thu năm ấy huyện có công văn về đoàn: sau Tết sẽ giải thể, diễn viên ai về nhà nấy, người còn trẻ thì xin vào đoàn tỉnh. Đoàn mười chín người, già nhất là ông Tửu kéo nhị, trẻ nhất là chị Lụa đóng Thị Mầu.

Huyện cho đoàn diễn một đợt cuối ở các xã ven biển, coi như chia tay. Ông trưởng đoàn là ông Tạ Quang Hiển, người Kim Đông, năm ấy chừng năm mươi sáu tuổi. Huyện muốn đoàn diễn Quan Âm Thị Kính, vở tủ của đoàn hồi những năm bảy mươi.

Tôi nghe người lớn nói, đoàn đã không diễn Quan Âm Thị Kính từ năm 1979. Ai hỏi vì sao thì người ta chỉ chép miệng, bảo vở ấy xui.

Bố tôi không nói gì về chuyện xui hay không xui. Nhưng từ hôm có lịch diễn, ông thay đổi.

Ông vốn là người ồn, về nhà là nhại tiếng bà hàng nước, nhại cả con gà mái nhà bên. Tháng ấy ông ít nói hẳn. Chiều nào ông cũng vác liềm ra bãi cói ngoài đê, bảo đi cắt cói giúp u, nhưng tối về liềm vẫn khô, bó cói trên vai lèo tèo mấy nắm.

Có một chiều tôi đi bắt cua đồng ngoài bãi. Tôi nghe từ giữa bãi vọng ra một giọng hát. Giọng đàn bà, cao và mảnh, hát mấy câu lề lối rồi tắc lại, ho, rồi hát lại từ đầu.

Tôi tưởng ai đó trong xóm đi cắt cói. Lúc tôi rẽ cói đi vào thì giọng tắt. Bố tôi ngồi bệt dưới bờ mương, tay cầm liềm, cổ đỏ ửng như vừa bị ai bóp.

"Ra đây làm gì?"

Tôi bảo con nghe có người hát. Bố nhìn tôi một lúc, rồi cười, cái cười hề của ông, méo một bên mép.

"Ma cói đấy. Về đi, kẻo nó bắt."

Buổi diễn đầu của đợt chia tay là ở ngay sân đình Đồng Cói, tối mười lăm tháng Chín âm. Sân khấu là ván ghép trên mễ gỗ, cao ngang ngực người lớn, trải chiếu cạp điều. Phía trên là một giàn tre, treo hai bóng điện kéo từ máy nổ và một ngọn đèn măng-sông dự phòng. Từ chiều, ông Tửu đã bơm đèn xì xì, mùi dầu hoả bay khắp sân.

Trước giờ diễn, bố tôi gọi tôi vào hậu trường. Hậu trường là gian bên của đình, ngăn bằng tấm phông vải vẽ cảnh chùa. Ông đã đánh mặt xong, má đỏ, mũi trắng.

"Tối nay con ngồi xa ra. Ra chỗ gốc đa mà ngồi, đừng ngồi sát chiếu."

Tôi hỏi vì sao. Ông chỉ vỗ vai tôi rồi quay đi. Tôi vẫn ngồi sát chiếu như mọi lần.

Vở diễn đến cảnh Thị Mầu có chửa, bị điệu ra đình. Xã trưởng ngồi trên chiếu, gõ cái thước gỗ, bắt vạ, nói những câu bậy bạ quen thuộc làm người xem cười rộ. Bố tôi diễn hay như mọi lần. Ông đứng dậy, đi giật lùi, khua thước.

Rồi ông bước hụt mép ván.

Ông ngã ngửa xuống đất, cách chỗ tôi ngồi chưa đầy hai sải tay. Tiếng lưng ông đập xuống sân gạch nghe đục và nặng. Người xem còn cười, tưởng là một miếng hề. Rồi tiếng cười thưa dần. Bố tôi nằm im.

Tôi đã xem bố tập ngã hàng trăm lần. Ông dạy tôi từ năm tôi lên bảy: ngã thì thu cằm, chống khuỷu, lăn theo vai, đừng để gáy chạm đất. Cú ngã hôm ấy, ông thu cằm, chống khuỷu, lăn theo vai. Tôi nhìn thấy rõ, vì tôi ngồi ngay đấy.

Nhưng ông vẫn nằm im, mắt nhắm.

Người ta xúm lại. Ông Tửu bỏ nhị chạy ra. Ông Hiển từ hậu trường lao ra, mặt tái. Có người đi gọi y tá xã. Tôi quỳ cạnh bố, nắm tay ông. Tay ông lạnh, nhưng ngón cái miết nhẹ lên mu bàn tay tôi một cái, rất khẽ, như bảo tôi yên.

Rồi ông mở mắt.

Ông nhìn lên giàn tre trên đầu, nơi ngọn măng-sông đang xì xì. Ông nhìn lâu, mắt không chớp. Môi ông mấp máy. Rồi từ cổ họng ông bật ra một tiếng hát, không lời, chỉ là một hơi ngân dài, cao vút. Giọng đàn bà.

Cả sân đình im phăng phắc. Máy nổ sau đình vẫn chạy phành phạch, nghe to bất thường.

Ông Tửu là người đầu tiên lùi lại. Ông đứng sau đám người, tay còn cầm cái cần nhị, miệng há ra mà không nói được gì. Bà Gái bán nước chè đứng cạnh tôi thì lẩm bẩm, giọng run:

"Giọng con Thắm. Đúng giọng con Thắm rồi."

Người ta khiêng bố tôi lên xe cải tiến kéo về nhà. U tôi đi bên cạnh, tay giữ thành xe, không khóc, chỉ thở. Đường đê tối om, đèn pin của ai đó lia qua lia lại trên mặt bố.

Đến chỗ rẽ vào xóm, bố tôi ngồi dậy. Ông tháo cái khăn xếp của vai xã trưởng ra, rũ thành một tấm vải đen dài. Rồi ông trùm nó lên đầu, vuốt hai mép xuống má, buộc gọn ra sau gáy, chừa một chóp nhọn nhô ra trước trán. Hai tay ông làm việc ấy nhanh và khéo, như đã làm cả nghìn lần.

Đó là cách đàn bà ngày xưa đội khăn mỏ quạ. Bố tôi chưa đội khăn ấy bao giờ, kể cả trong vai con Nô.

Ông quay về phía tôi. Dưới ánh đèn pin, mặt ông vẫn còn lớp phấn trắng loang lổ.

"Em ơi, đường nào về Cồn Nhì?"